Nguyễn Đình Xuân

169 View | 4

ba tôi

06/05/2011 23:22:20

Ba tôi

 

                                                                   *Nguyễn Đình Xuân

 

          Thế là lại đến ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5). Ngày trước khi tôi ra đời tới hơn mười bốn năm nhưng với tôi không bao giờ quên được. Đấy là bởi hơn mười bảy giờ hôm ấy ba tôi là một trong những chiến sĩ có mặt trên đồi Mâm Xôi trong khu vực cánh đồng Mường Thanh chứng kiến sự đầu hàng của Tướng Đờ-cát. Trên người còn mang thương tích chiến tranh do sức ép của bom đạn sập hầm hào nhưng cứ mỗi mùa hè về mắt ba tôi lại như rực sáng nhớ xa xăm về một thời “chân đất súng trường”...

          Ra đi khi tuổi còn rất trẻ với vóc người mảnh mai nhưng ba tôi mang theo cả khối hơn căm giặc Pháp. Ấy là năm 1947 khi ông nội tôi bị đạn moóc-chi-ê của quân Pháp bắn chết trong khi đang cày ruộng. Ông từng đi lính cho quân đội Pháp chiến đấu trên chiến trường châu Âu chống phát xít Đức để bảo vệ nước Pháp. Người làng quê tôi gọi ông là “lính khố đỏ”. Đến năm 1941 ông tôi giải ngũ trở về quê lại gắn bó với đồng ruộng cày cuốc làm ăn. Thế mà trong một cuộc càn quét quân Pháp đồn trú ở khu vực cầu Lai Vu nã moóc-chi-ê vào làng. Đạn nổ dữ dội. Ông tôi đã chạy và ẩn nấp sau đống đất cao giữa đồng nhưng lại thương con trâu đang mắc gông trên ruộng. Ông chạy lại gỡ cho chúng thì trúng đạn.

          Đó là chuyện ba tôi kể lại. Ngày ba ra đi là một đêm tối trời. Đi bí mật ba không cho bà nội và mẹ tôi biết. (Ba tôi được ông bà nội lấy vợ cho khi mới chín tuổi). Vượt qua dòng sông Kinh Thày sang đất Chí Linh cùng với một số thanh niên của làng ba tôi được sung vào bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 98 Đại đoàn 316. Rồi từ ấy theo đường hành quân và chiến đấu của đơn vị ba tôi lần lượt tham gia các chiến dịch Thượng Lào Tây Bắc rồi Điện Biên Phủ... Ngay trên chiến trường Điện Biên Phủ lửa đạn ác liệt ba tôi đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trước ngày kết thúc chiến dịch 5 ngày. Từ đó đến nay ba tôi vẫn giữ nguyên một lý tưởng của Đảng. Tấm bằng và huy hiệu 50 năm tuổi Đảng ba tôi treo trang trọng trong ngôi nhà của mình.

          Đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc năm 1983 sau gần 32 năm phục vụ quân ngũ mắt mờ chân chân đã chậm ba tôi được nghỉ hưu. Nhưng đầu những năm 80 ấy như Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nói “Đất nước đang trong cơn đau đẻ”. Khi ấy đời sống người dân vô cùng khó khăn thiếu thốn kinh tế kiệt quệ bởi sự duy trì cơ chế quản lý tập trung hành chính quan liêu bao cấp kéo dài. Rời chiến trường ba tôi lại xắn quần lội ruộng cuốc đất trồng lúa trồng màu. Đấy cũng là thời kỳ đặc trưng của nông nghiệp nước nhà “cơ khí hóa toàn cuốc”. Vất vả thế nhưng ba tôi vẫn tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng. Và đó là niềm tin có cơ sở vì năm 1986 bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới như là một sự sống còn nếu tổ chức Đảng thực sự là hạt nhân cầm quyền...

          Cuộc đời ba tôi là một hành trình vất vả và không thật may mắn dù ba là người có tài. Đi bộ đội khi đã học hết tiểu học và với kiến thức có được cùng với sự may mắn đã cứu ba tôi nhiều lần thoát chết. Đấy là khi chiến đấu ở đồi D1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ ba tôi chỉ huy một tiểu đội bảy người. Đại liên của địch bắn rát trước mặt mà nhiệm vụ của tiểu đội phải vượt qua làn đạn để bảo đảm thông tin liên lạc. Ba đã tính toán khi địch ngừng bắn ấy là lúc địch thay băng đạn mới lợi dụng lúc đó là tiểu đội vượt qua bãi đất trống với đoạn đường ngắn nhất là chạy tắt theo cạnh huyền tam giác vuông. Cả tiểu đội sống sót sau những trận chiến đấu ác liệt. Tính ba thẳng thắn làm việc trách nhiệm làm hết sức mình nhưng không hề cầu cạnh bợ đỡ. Đã nhiều lần lãnh đạo cấp trên cất nhắc để ba tôi đi học hoặc bổ nhiệm vị trí cao hơn ở đơn vị mới nhưng ba tôi luôn được lãnh đạo chỉ huy đơn vị giữ lại vì “phẩm chất đạo đức tốt làm được việc trách nhiệm và kết qảu cao nếu cho đi học để phát triển thì đơn vị chưa tìm được người để thay thế”! Nếu là người thức thời ba có thể đi “gõ cửa sau” hoặc tìm người giúp. Nhưng ba đã không làm thế. Những đứa con chúng tôi vì vậy cũng phải chịu đựng sự khó khăn vất vả và thiếu thốn nhưng luôn tự hào về ba tôi về tấm lòng trong sáng. Có lẽ đấy là tài sản quý nhất!  

          Tháng Năm năm nay trước ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ thì có đợt gió mùa đông bắc tràn về mang theo những cơn mưa nặng hạt. Ba tôi cảm nhận rõ ràng sự bất thường của thời tiết khắc nghiệt bằng những cơn đau. Ba phải ở bệnh viện đón ngày chiến thắng vì phải trải qua hai cuộc phẫu thuật. Hôm chuẩn bị đi vào phòng phẫu thuật tôi nắm chặt tay ba và động viên: “Chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa có sá chi bom đạn vậy thì có gì phải lo lắng khi vào trận chiến đấu giành giật lấy sức khỏe và sự sống này”. Ba nhìn tôi như muốn nói con hãy yên tâm điều quan trọng nhất để vượt qua là niềm tin. Ba có Thẻ Bảo hiểm y tế dành cho người có công với cách amngj có huân chương huy chương được miễn 100% tiền viện phí tiền thuốc. Nhưng ba tin tưởng ở các thày thuốc quân đội nên ba đồng ý vào điều trị ở Bệnh viện 7 Quân khu 3. Tôi cũng muốn để ba tin vào những người lính những đồng đội của ba của tôi.

          Khi nhìn thấy ba trở về nằm điều trị trong phòng hậu phẫu. Giường bệnh ga trải trắng toát ba nằm thiêm thiếp ngủ. Người lính trận trải qua ba cuộc kháng chiến và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang đấu tranh để giành sự sống. Rồi khi tỉnh lại ba cố chịu những cơn đau do vết mổ. ba vẫn thế không kêu ca không đòi hỏi gì riêng cho mình. Ngay trong cuộc chiến chống bệnh tật này ba tôi vẫn như người lính luôn tin tưởng ở ngày mai. Có lẽ đấy là sự truyền lửa mạnh mẽ từ ba sang chúng tôi những đứa con còn trẻ...

Nguyễn Đình Xuân

165 View | 6

Những bến sông quê

17/01/2009 13:49:54

         Làng tôi được bao bọc bởi ba mặt sông. Đó là những nhánh sông được bắt đầu bởi dòng sông Thái Bình và sông Kinh Thày. Khi chảy quanh làng tôi chúng được đặt những cái tên rất giản dị nhưng vô cùng thân thuộc như sông Cái sông Con và sông Kênh. Bởi thế nên quê tôi có rất nhiều bến sông. Thuở trước dân làng tôi muốn đi sang các làng xã khác phần lớn đều phải đi đò. Những con đò làm bằng tre bằng gỗ chở người sang sông cứ chòng chành lênh đênh trên sóng nước. Những con đò ấy đã lưu giữ bao chuyện vui buồn của dân làng tôi. 
            Từ mấy trăm năm rồi làng tôi được mang cái tên gọi làng An Điền với mong muốn của bao đời người dân là yên bình làm ăn. Nhưng tên đất An Điền quê tôi như nhiều làng quê khác của non sông Việt Nam luôn gắn với những cuộc đấu tranh không mệt mỏi với thiên nhiên với giặc ngoại xâm từ phương Bắc hay các cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân đế quốc. Đã có những ngày làng tôi trắng nước bởi những đợt lụt lội kéo dài. Hay những ngày làng tôi trắng khăn tang tiêu điều xơ xác bởi những trận càn quét đốt phá của thực dân Pháp với những tên lính lê dương hung dữ. Làng tôi còn bị cày xới bởi bom đạn Mỹ trong những năm tháng khốc liệt của cuộc chiến tranh phá hoại trên miền Bắc. Dưới những lớp đất đá hay dưới những lòng sông vẫn còn những viên đạn những quả bom còn chưa nổ. Làng tôi đã trải qua những nỗi đau xót thương tâm trong hòa bình khi lũ trẻ con tưởng thứ bom bi là đồ chơi nên bất ngờ phát nổ... 
         Truyền thuyết kể rằng đã xưa lắm làng tôi cũng có một cây cầu bắc qua khúc sông phía đầu làng. Hồi đó làng tôi được giao bắc cây cầu ở khúc sông qua làng để nhà Vua đi tuần... Bao nhiêu trai tráng của làng được huy động ra mở bến chặt cây bắc cầu. Chỉ trong mấy ngày trai tráng làng tôi đã bắc xong chiếc cầu bằng tre mặt lát gỗ qua sông. Nhưng đến hôm trước ngày nhà Vua đến thì đêm ấy trời đổ mưa to gió lớn. Lũ cuồn cuộn chảy dòng sông mênh mang trắng nước. Cây cầu cũng chìm nghỉm dưới lòng sông. Khi nhà Vua tới không có cầu qua sông Ngài liền giận dữ khép tội trai tráng làng tôi mắc tội khi quân và xử chém. Để cứu dân làng có năm anh em trai trong một gia đình ở làng tôi nhận làm công việc bắc cầu. Đầu của người anh thứ hai bị bêu ở xóm Yến đầu làng người anh cả ở xóm Xuân giữa làng người anh thứ ba ở xóm Giáp và người con trai út ở xóm Kim. Riêng người con trai thứ năm là con nuôi thì bị bêu đầu ở cánh đồng Tống của làng. Xử trảm xong có một bà bán hàng nước ở làng Cổ Pháp mới đến và thưa với nhà Vua rằng bà đã tận mắt thấy làng tôi bắc cây cầu qua sông nhưng vì mưa gió nước sông cuộn chảy đã cuốn cây cầu đi mất. Nhà Vua biết mình đã khép tội nhầm liền ban Chiếu Giải oan nhưng không bao giờ cho làng tôi bắc cầu mà chỉ cho mở bến đò. Dân làng tôi ghi nhớ công ơn đã lập đình và đền thờ năm người con trai xả thân vì nghĩa lớn. Trước đây cứ khoảng mồng 10 Tết làng tôi lại mở hội và rước Long đình từ đình Yến đình Giáp đình Kim về tựu ở đình Xuân thờ người con trai cả ở giữa làng. Riêng người con nuôi được thờ ở đền Tống. Bà hàng nước được lập đình thờ ở làng Cổ Pháp. 
      Trải qua những biến động thăng trầm của lịch sử các đình đền thờ ở làng tôi đều bị phá hủy nhưng dấu tích các ngôi đình đền vẫn còn. Mỗi khi về quê qua đò Quốc tôi lại thấy sừng sững cây đa đền Tống vẫn còn đến ngày nay. Những bến đò làng tôi có lẽ ra đời từ đó. Đò Quốc đi sang Kinh Môn. Đò Tre đi sang Chí Linh. Đò Kênh đi Đông Triều. Đò Cổ Pháp sang Kim Thành. Đò Mây đò Tân Lập sang Phú Thái và những bến đò nhỏ khác quanh làng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp những bến đò làng tôi đã đưa bao lượt bộ đội du kích bí mật qua sông. Có nhiều người trai làng tôi qua đò nhập ngũ tham gia vào những chiến dịch lớn như chiến dịch Đông Triều Trần Hưng Đạo Đường 18 Điện Biên Phủ... 
      Khi đường 5 cầu Phú Lương cầu Lai Vu phà Bình bị bom đạn đánh phá dữ dội trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc các bến đò quê tôi lại trở thành những nút giao thông quan trọng. Nhiều bến đò trở thành bến phà như bến đò Cổ Pháp đò Mây trên tuyến giao thông vòng tránh đường 5 kịp thời đưa hàng đưa người chi viện tiền tuyến lớn miền Nam... Làng tôi cũng đã xuất hiện nhiều dũng sĩ phá bom có nhiều sáng kiến phá bom nổ chậm tiêu biểu như nữ dân quân Nguyễn Thị Tùng đã được Bộ tư lệnh Công binh khen thưởng. Làng tôi đã đóng góp những thành tích chiến công cùng Đảng bộ và nhân dân xã Cộng Hòa (Nam Sách Hải Dương) được Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. 
      Những bến đò quê như là một phần máu thịt của làng tôi. Với mỗi con người xa quê hương những bến đò xưa còn vẹn nguyên trong ký ức. Vào dịp năm hết tết đến những con đò quê tôi lại đón bao lượt người đi xa trở về tảo mộ tổ tiên thăm lại họ hàng. Con đò âm thầm góp làm sợi dây nối nguồn tình cảm ấy. Nhưng những con đò quê tôi vẫn không quên một thời gian khó nhớ những người con xa quê "muốn về quê mẹ mà không có đò". Nhớ nhất là ký ức của những người chèo đò làng tôi bởi họ đã từng đưa bao thanh niên qua sông trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ rồi chiến tranh biên giới. Hết chiến tranh đã có những ai không trở về? Cái làng quê của tôi chỉ hơn nghìn nhân khẩu trong chiến tranh bình quân đã phải hứng chịu 350 quả bom các loại hơn một trăm người đã hy sinh trên khắp các chiến trường... Rồi làng tôi cũng như bao làng quê khác đã từng ngày thay da đổi thịt theo công cuộc đổi mới mà Đảng ta khởi xướng. Mỗi khi đi xa về là mỗi lần tôi luôn ngỡ ngàng. Làng tôi đã từng bước "bê tông hóa" những con đường không còn gia đình nào phải sống trong cảnh nhà tranh vách đất. Số hộ giàu và khá chiếm tỷ lệ khá cao. Tất nhiên sự biến đổi ở làng tôi trong công cuộc đổi mới cũng làm mất dần đi những bến đò quen thuộc. Những con đường mới mở những cây cầu mới xây dựng chạy ngay sát làng tôi khiến cho việc đi lại rất thuận tiện. Bây giờ dường như chẳng còn ai đi đò. Người dân làng tôi đi đến Phú Thái Hải Phòng hay đi Đông Triều Chí Linh chỉ hết chưa đầy tiếng đồng hồ với chiếc xe máy mới đổi bằng hàng chục tấn thóc. Những bến đò quê tôi dần dần trở thành kỷ niệm. Nhiều người làm nghề chèo đò năm xưa bây giờ chuyển sang làm nghề lái xe ôm có khi đi làm ăn xa mãi tận Hải Phòng Quảng Ninh Hà Nội. Tôi về quê cũng không phải đi đò nữa nhưng những bến đò quê thì mãi còn nguyên trong ký ức tôi...

Nguyễn Đình Xuân

374 View | 16

CỎ CHỌI GÀ

11/01/2009 10:10:21

Đi lại trên bờ đê quê nhà tôi cố ghếch cổ đón những làn gió mát rượi. Gió mang hương đồng se se sắc lúa quện trong hương cỏ mật. Cuối thu cỏ úa khô đầu ngọn để dậy hương trong hanh hao. Tôi thơ thẩn cúi xuống bờ đê lần những đám cỏ mật rồi vò nhẹ trong tay đưa lên mũi hít hà. Bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn nhớ hương cỏ bởi cũng trên triền đê này lũ trẻ chăn trâu chúng tôi thường rủ nhau đi tìm cỏ gà rồi túm tụm nhau chơi chọi cỏ gà. Hồi nhỏ tôi là cậu bé láu cá nên thường thắng trong các cuộc chơi. Phần thưởng của kẻ thắng chọi cỏ gà là được ung dung ngồi trên mình trâu để cho người thua cuộc phải dắt trâu theo những bờ ruộng về làng...
     -Chú còn biết chơi chọi cỏ gà với cháu không?
Ồ một cậu bé mái tóc vàng hoe đến bên tôi. Hóa ra cháu vẫn chơi trò chơi của tuổi thơ tôi. Trên tay cậu bé cầm một nắm cỏ gà. Tôi hơi bất ngờ nhưng kịp bảo: Ừ đợi chú đi lựa cỏ gà đã nhé.



            Tôi xăm xăm lật cỏ những chiếc lá sắc còn vương lại trong triền đê cỏ héo chọc cứa tay tôi. Cỏ gà bây giờ không nhiều như xưa phần vì mặt đê đã đổ bê tông và ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ mà người nông dân sử dụng trên những cánh đồng. Rồi tôi cũng lựa được ngót chục con gà và quay trở lên chơi chọi cỏ gà cùng cậu bé.

            Vẫn bằng trò láu cá của tôi hồi nhỏ mà chẳng mấy chốc cậu bé hết hẳn số con chọi trên tay. Cậu giận rỗi bảo: Tại chú lớn chú khỏe hơn nên chú mới thắng. Tôi mỉm cười. Chọi cỏ gà đâu cần nhiều sức lực. Rồi tôi hướng dẫn cháu cách lựa cỏ gà. Chọn những con dây đều cổ thuôn đốt cổ dài. Đầu gà không cần to vì chúng dễ bị đứt. Khi đánh phải dứt khoát miết cổ tay về phía đầu gà. Chơi chọi cỏ gà cũng như cách người xưa thi ngựa. Đấy là lựa chọn những con ngựa ra đối đầu phù hợp khi đối phương ra ngựa khỏe ta ra ngựa yếu rồi ta ra ngựa khỏe để thi với ngựa đã mất sức. Nguyên tắc chơi chọi cỏ gà chỉ khi con gà này đứt cổ con khác mới được thay. Vì thế khi đối phương ra gà khỏe ta lựa con gà yếu để gà của đối phương bị xơ tướp dần lúc ấy ta dùng gà khỏe ra đọ sức. Cầm cỏ gà cũng phải có cách. Khi đối phương đánh ta không nên giữ chặt quá mà phải thả lỏng tay vừa đủ để cỏ gà không rơi. (Vì nếu rơi ra đối phương được đánh lại). Với sự láu cá như thế tôi đã thắng được nhiều trận. Các bạn đồng lứa chăn trâu của tôi hôi đó thường đứng về phe tôi nếu có những cuộc chia phe chọi cỏ gà.

               Cũng có nhiều lần vì mải la cà chơi chọi cỏ gà với đám bạn tôi về nhà muộn bị mẹ mắng thậm chí còn cho tôi mấy roi bằng cây sậy. Mẹ đánh không đau nhưng tôi vẫn còn xuýt xoa đến bây giờ. Mẹ sợ tôi mải chơi mà xao nhãng chuyện học hành. Nhà tôi có bốn chị em tôi là con út nên cũng được chiều hơn. Ba tôi là bộ đội một năm chỉ có hơn chục ngày phép về thăm nhà. Ấy thế mà có lần mải chơi chọi cỏ gà đi đổ nước bắt dế ở bờ đê bờ máng Bà Bùng đến nỗi ba tôi phải đi tìm về giục đi tắm rửa rồi ăn cơm. Ba tôi không giận tôi cũng không mắng vì thời gian ba ở nhà không nhiều nên ba chiều chị em chúng tôi. Tôi biết thế nên hay lợi dụng mỗi lần ba về phép tôi lại hay rốn chơi hơn. Nghĩ lại mà thấy thương ba quá.

           Bây giờ tôi cũng đã là bộ đội những lần đi công tác dài ngày trở về nhà thấy hai đứa con trai nghịch ngợm tôi cũng cố kìm lòng không nặng lời với chúng. Nhưng bọn trẻ cùng lứa với con tôi chúng làm sao có bờ đê bờ máng những cánh đồng... để chơi như hồi tôi thơ bé. Ra đường phố đông nghịt xe vào công viên nếu sơ ý giẫm phải kim tiêm thì thật tệ thế là tôi đành chỉ cho bọn trẻ chơi ở hành lang trong khu nhà tập thể. Có thời gian tôi thường cho lũ trẻ về quê. Khi thấy lũ trẻ gặp lại tuổi thơ của tôi tự dưng trong lòng tôi cảm thấy nhẹ nhàng thanh thản...

(Bài đã đăng trên báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 674 ngày 30-11-2008)

Nguyễn Đình Xuân

186 View | 2

GIÀN TRẦU CỦA MẸ

03/01/2009 16:33:35

 

*Tạp văn của Nguyễn Đình Xuân

 

Đã lâu rồi tôi chưa về quê nơi mà đi đến đâu cũng có hình bóng mẹ có dấu tuổi thơ tôi trong âm điệu du dương lời ru của mẹ. Dường như vẫn còn đây ánh mắt mẹ dõi mong con về và nụ cười trên đôi gò má nhăn nheo để lộ hàm răng hạt na đen nhánh của mẹ. Hơn năm năm rồi hình bóng mẹ luôn trở về trong ký ức tôi bởi vì trong cái đêm mùa xuân năm thứ hai của thế kỷ mới mẹ tôi đã trôi cùng ánh trăng mà hôm ấy ánh trăng như pha màu đỏ đưa mẹ tôi về nơi xa xôi lắm. Đêm đầu năm còn lạnh nhưng trời không nhiều mây nên trăng càng sáng. Tôi thức trắng cả đêm trăng hôm ấy...

Căn nhà nhỏ mẹ tôi đã từng ở được dựng lên bên bụi tre rậm rạp trước đây. Ở đó còn có cây bưởi tuy không thật sai quả nhưng ăn rất ngon mỗi độ thu về hương bưởi thơm lừng lan khắp xóm nhỏ. Dưới bóng mát bờ tre và trong hương bưởi tôi và mấy đứa em gái con chú họ đã dựng lên những ngôi nhà lợp lá chuối thấp lè tè và chơi trò mua bán hàng với những đồng tiền lá mít... Rồi bờ tre cây bưởi lần lượt bị chặt đi ấy là sau khi anh trai tôi lấy vợ. Ba mẹ tôi đã nhường lại ngôi nhà bao năm chắt bóp để xây dựng nên cho anh tôi và ra dựng ngôi nhà nhỏ trên chỗ gốc cây bưởi bên bụi tre này. Mẹ tôi tần tảo đã chịu khổ từ lúc chưa ra đời vì ông bà ngoại tôi rất nghèo phải đi làm thuê làm mướn nên quen với công việc làm lụng luôn chân luôn tay. Ngôi nhà nhỏ dựng lên để đỡ buồn mẹ tôi cất mấy phong kẹo lạc kẹo dồi đậu phộng hộp bích quy mấy bao thuốc lá gói thuốc lào can rượu tất nhiên là cả những mớ rau mùi rau húng quả quất quả chanh mà mẹ tôi trồng được từ vườn nhà mùa nào thức ấy bầy ra trước cửa để bán. Khi ấy tôi đã là bộ đội nên mỗi lần về thăm mẹ tôi thường hay đùa: "Mẹ lại chơi trò chơi giống bọn con ngày nhỏ hồi xưa ở cái góc vườn này"... Mẹ mắng yêu tôi: "Cha bố anh tôi đã sắp vào tuổi cổ lai hy rồi mà anh lại bảo tôi chơi trò của bọn trẻ ranh à?". Nếu là con gái chắc tôi đã sà vào lòng mẹ. Và tôi tự nhủ bao giờ mẹ tôi mới hết vất vả lo toan để được sung sướng? Khi tôi trả phép mẹ giúi vào tay tôi hơn chục nghìn đồng bảo để uống nước dọc đường. Mẹ bảo nếu mẹ có sẽ cho con nhiều hơn. Tôi không biết nói gì nhìn mẹ và quay bước thật nhanh vì tôi sợ nhìn thấy mẹ khóc...

Mỗi lần về thăm mẹ tôi thường đi dưới giàn trầu không lá xanh rì. Những ngày hè nóng nực tôi thường hay đứng dưới giàn trầu hít hà hương vị nồng nồng cay cay. Mẹ tôi nghiện trầu cau nên mẹ tự trồng lấy trầu để ăn. Giàn trầu mẹ trồng xum xuê lá nhưng gốc của nó gân guốc vỏ nhăn nheo. Nghĩ về trầu mà tôi lại nhớ dáng hình của mẹ. Hồi còn nhỏ chẳng hiểu sao mùa đông năm ấy cây trầu nhà tôi trụi sạch không còn chiếc lá nào. Mẹ đưa cho tôi một hào bằng hai đồng năm xu tròn có lỗ ở giữa bảo tôi lên nhà bà Tầu ở gần chợ Tổng mua trầu cho mẹ. Tôi bảo sao mẹ không mua trầu ở nhà bà Trầu ngay ngõ nhà mình cho tiện. Mẹ tôi bảo giàn trầu nhà bà ấy cũng lụi lắm không còn bao nhiêu lá nên bà ấy để dành không bán mà cũng không cho ai. Tôi cầm hai đồng tiền xu mẹ đưa vụt ra cổng bước đi chân sáo. Ra đến đường cái bờ sông qua nhà ông Mẹo gặp bọn thằng Hóa nhà ông Lai đánh đáo. Chúng nó rủ tôi vào cùng chơi. Mân mê hai đồng tiền xu trên tay tiền để tôi mua trầu cho mẹ nên tôi không chơi. Mà sao lúc đó bọn thằng Hóa nói những gì vừa ngọt ngào vừa kích thích lòng tự ái của tôi thế là tôi quên bẵng việc mua trầu cho mẹ. Mỗi ván chơi đáo là một xu chẳng mấy chốc hai đồng tiền năm xu của tôi chui gọn vào trong túi quần bọn thằng Hóa. Tôi chẳng biết làm sao bây giờ đành đến nhà bà Tàu nói khó là để tôi mua chịu cho mẹ. Nhưng bà cũng nhất định không cho bảo phải có tiền. Trời bắt đầu sẩm tối. Mùa đông nhanh tối lại rét khiến trong người tôi càng run hơn vì sợ mẹ mắng. Tôi nghĩ liều lợi dụng trời nhá nhem tối lẻn qua rào ra sau nhà bà Trầu hái trộm năm lá. Cuộc trộm của tôi trót lọt về nhà mẹ không nói gì vì mẹ không hề biết.

Hôm sau mới tờ mờ sáng cả xóm tôi bị đánh thức bởi tiếng chửi của bà Trầu. Mà bà ấy chửi hay lắm có bài có vần điệu hẳn hoi. Dường như cả xóm đã quen với tiếng chửi của bà. Mất gà bà chửi. Mất mấy quả chay hay là chục quả táo bà cũng chửi. Bà không biết chữ mà sao đếm giỏi thế nhớ rất kỹ rất lâu. Cây cối hoa quả trong vườn chắc bà đã đánh dấu rất cẩn thận. Mất của bà chửi nhưng nhiều lần mất nhãn mất vải hóa ra là các cháu của bà ăn trộm. Bà Trầu hà tiện lắm hoa quả bà chẳng cho con cháu đâu bà đem ra chợ tất. Tôi đã từng mua những sâu táo của bà hai xu một chục quả ăn đến bây giờ vẫn còn thấy hương thơm của thứ táo quả nhỏ sinh ra từ thân cây già nua mốc thếch. Có những quả táo chín quá đã rụng bà cũng nhặt xiên kèm vào nhưng lũ trẻ con chúng tôi hồi ấy ăn vẫn thấy ngon lành. Buổi sáng này bà chửi không phải vì mất hoa quả mà vì bà bị hái trộm những lá trầu. Trong xóm nhiều người cùng tuổi mẹ tôi cũng ăn trầu cả nhưng bà cứ quay hướng chửi vào nhà tôi. Tôi sợ mẹ nên không dám nói ra còn mẹ tôi thì cam chịu tự nói với mình: "Hôm qua xin cái lá thì không cho nay chắc nghi ngờ mình đây?".

Từ ấy tôi dành nhiều thời gian chăm sóc cây trầu cho mẹ. Tôi lấy đất mùn bón gốc tưới nước cho trầu mong những chiếc lá sớm mọc trở lại. Mẹ tôi bảo chắc mấy tháng trước con hái trầu ban đêm không xin "hồn cây" nên trầu giận. Từ ấy mẹ tôi dặn con hái trầu buổi tối nhớ đọc chú nhé. Khi tôi trở thành sĩ quan quân đội về thăm mẹ vẫn thấy giàn trầu xanh lá. Mẹ tôi giục tôi cưới vợ vì độ này trầu còn sai lá. Đêm ngủ trời hè mẹ lo giắt màn rồi nghiêng đèn soi muỗi cho tôi. Tôi nghe rõ hơi thở nhẹ nhàng của mẹ nhìn qua cửa sổ trong ánh trăng mờ những lá trầu như những bàn tay đung đưa vẫy vẫy.

Mùa đông năm mẹ tôi bay theo ánh trăng giàn trầu bỗng dưng khô héo thảm hại. Anh tôi năm ấy cải tạo lại ngôi nhà mà ba mẹ tôi để lại cho cũng phá luôn giàn trầu. Anh bảo bây giờ nhà mình còn ai ăn trầu nữa đâu. Để đó chỉ thêm bận vì hàng xóm cứ lải nhải đến xin lá... Còn tôi về thăm mẹ mỗi lần nhìn di ảnh thấy mẹ đôi môi vẫn đỏ bởi trầu. Tôi lại lặng lẽ ra chợ chọn những lá trầu đẹp nhất để dâng lên mẹ...

Có thể bạn sẽ thích