Nguyễn Đình Xuân

96 View | 0

“Hương quê” trong nỗi nhớ người xa xứ

15/12/2016 11:06:20

Bài bình thơ của Nguyễn Đình Xuân

Nguyễn Đình Xuân

201 View | 2

Xem Nguyễn Chu Nhạc "... thắp lửa"

13/05/2011 06:30:57

alt

Nhà thơ Trần Đăng Khoa giới thiệu với tôi: “Chú nên tìm đọc Nguyễn Chu Nhạc hắn viết đa dạng đọc sẽ thấy nhiều cái thú vị”. Ấy là trong bữa cơm bụi trên phố Lý Nam Đế khi ấy Trần Đăng Khoa còn công tác ỏ tạp chí Văn nghệ quân đội. Buổi ấy tôi còn được gặp thêm Nguyễn Chu Nhạc Trịnh Bá Ninh… Rồi từ ấy tôi chưa gặp lại Nguyễn Chu Nhạc. Anh cũng chẳng nhớ việc bảo tặng sách cho tôi. Gần đây nhất nhân buổi đưa con đi chơi Nhà sách Tràng Tiền ở Hà Nội nhìn trên giá sách có cuốn “Những người thắp lửa” tập phê bình tiểu luận và chân dung văn học của Nguyễn Chu Nhạc do NXB Văn học ấn hành năm 2009 tôi chọn mua xem anh “thắp lửa” thế nào.

Cuốn sách của anh do nhà thơ Trần Đăng Khoa viết giới thiệu. Từng là bạn học thời đèn sách đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đầu những năm 1970 và là đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay thần thái của Nguyễn Chu Nhạc được nhà thơ “thần đồng” bóc gỡ phơi ra cả. Thế thì đọc xong tôi còn viết gì? Nhưng đọc kỹ thấy có thêm những điều muốn nói thế là tôi tìm đến bàn phím.
Nguyễn Chu Nhạc quả là con “ma xó” đông tây kim cổ rành rọt cả. Theo những gì anh viết tôi biết anh vốn là “con mọt sách” thừa hưởng sự dạy dỗ của người bố am hiểu chữ Hán. Rồi anh tự học tìm hiểu Hán ngữ nên những bài viết của anh về khảo cứu đàm đạo về thơ chữ Hán thơ Đường văn học Trung Quốc rất thú vị và sâu sắc. Bạn đọc cuốn hút với câu chuyện “Mưa Xuân cỏ mọc” bởi anh không chỉ đưa bạn đọc hiểu tường tận về danh nhân “lưỡng quốc trạng nguyên” Nguyễn Trực mà còn tạo nên cảm giác êm ái ấm áp mùa Xuân về ý nghĩa cuộc sống. Nhờ đó đọc sách người ta không cảm thấy nặng nề. Cũng với cách viết dung dị nhưng thấm như mưa Xuân anh dựng nên chân dung nhà thơ Trần Ngọc Thụ mà theo tôi anh đã thành công trong phần viết về thơ chữ Hán của Trần Ngọc Thụ. Thơ chữ Hán vốn được ký thác nhiều triết lý suy ngẫm trải nghiệm nhiều điển tích song qua ngòi bút của Nguyễn Chu Nhạc vẫn rất nhẹ nhàng dễ thấm mà thẫm đẫm tình người.
Có nhiều thời gian sống ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nên Nguyễn Chu Nhạc dễ đồng cảm với các tác phẩm văn học thơ ca viết về mảng đề tài này. Vì thế anh dựng nên khá thành công các chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ Trần Ngọc Thụ Phùng Cung và những bài tản văn đầy chất thơ như “Lối đi đầy mùi khói cuối năm” “Oi nước lên” “Vị minh mạc thác hoa” “Một năm có hăm bốn tiểu tiết” “Tết vui là nhờ có không khí”… Riêng bài “Vị minh mạc thác hoa” anh viết về thú ẩm trà tao nhã từ việc dẫn thơ Chu Thần Cao Bá Quát cách thưởng trà người xưa về ý nghĩa của chúng mà anh cảm được thành gia phong. Theo tôi bài viết giống như một trường ca đầy thi vị. Anh viết về những tác giả-“những người bình thường” trong văn chương nhưng qua đó anh đã khéo léo giới thiệu về truyền thống lịch sử văn hóa con người phong tục ở những làng các vùng miền qua đó thắp lửa trong lòng người đọc nhen lên những tình cảm cao đẹp thêm yêu quê hương con người gìn giữ và vun đắp những giá trị nhân văn con người. Điều đó thể hiện trong các bài viết “Người tìm giữ hồn làng” “Khát vọng văn chương” “Chân dung cuộc sống”. Khi anh viết về các nhà văn nhà thơ: Nữ sĩ Anh Thơ Phùng Quán Phùng Cung Phạm Hổ Trần Đăng Khoa Lâm Huy Nhuận Nguyễn Huy Thiệp… tuy chỉ là những chấm phá phác họa chân dung song đã có những điểm nhấn gây chú ý. Chẳng hạn nữ sĩ Anh Thơ có tiểu thuyết “Răng đen” mà chưa nhiều người biết; nhà thơ Phùng Quán nghẹn lời khi bị ai đó chặn lời; Phạm Hổ chăm chút các cây bút trẻ; Nguyễn Huy Thiệp lặng lẽ Lâm Huy Nhuận có tài bốc thuốc v.v..
Ở mảng văn học nước ngoài Nguyễn Chu Nhạc đề cập đến văn học Nga; văn học Trung Quốc cổ thì có “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần hiện đại có Mạc Ngôn Kim Dung; anh đề cập đến văn học văn hóa Nhật Bản thông qua nhà văn Yasunari Kawabata. Qua những bài viết bạn đọc ghi nhận sự cố gắng của anh chia sẻ với anh về cảm xúc nhưng chưa thỏa mãn về sự nhận diện văn học. Là nhà báo nên Nguyễn Chu Nhạc có điều kiện đi đến nhiều vùng đất địa danh trong nước và quốc tế đến đâu anh cũng chịu khó quan sát ghi chép nhờ đó mà mang đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và suy ngẫm thú vị.
28 bài viết in trong tập “Những người thắp lửa” đã cho anh số lượng tác phẩm riêng xuất bản lên tới con số 7. Tuy nhiên ở tập sách này anh hơi ôm đồm dẫn đến cảm rác rời rạc phân tán sự tập trung của người đọc. Có câu “quý hồ tinh…” nên một số bài viết anh cần phải gia công nhiều hơn để trở thành tác phẩm văn học. Đọc tập sách thấy anh còn để lộ mình nhiều khi cái tôi có hàm lượng nhiều lên thì sẽ gây nên hiệu ứng cản trở cho sự tiếp nhận của người đọc. Đấy là suy nghĩ của riêng tôi và tôi sẽ còn trở lại với những tác phẩm của anh trong các bài viết sau./.
Hải Dương 30-4-2011

Nguyễn Đình Xuân

253 View | 8

Phạm Văn Đoan để thơ “đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

26/04/2011 10:50:51

Phạm Văn Đoan để thơ “đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

alt

Nhà thơ Phạm Văn Đoan (phải) cùng tác giả trên tàu từ Trường Sa về Vũng tàu)

Nguyễn Đình Xuân

           Rất tình cờ trên chuyến tàu ra công tác ở quần đảo Trường Sa tôi gặp nhà thơ Phạm Văn Đoan. Anh là thành viên của đoàn công tác với tư cách cán bộ công đoàn. Chỉ khi đến đảo Song Tử Tây tôi mới biết anh qua lời giới thiệu của anh Đỗ Văn Hậu Phó Tổng giám đốc thường trực Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Ấy là khi tôi tặng tập thơ “Bóng nắng” mới xuất bản của mình cho cán bộ chiến sĩ của đảo. Phạm Văn Đoan bảo: “Tôi đã biết và đọc thơ Nguyễn Đình Xuân rồi qua nhà thơ Trần Anh Thái. Mấy ngày qua trên tàu quên cả say sóng tôi đọc “Bóng nắng”. Lúc ấy tôi mới biết anh và Phó Tổng giám đốc ở chung ca-bin trên tàu.

           Việc anh tranh thủ đọc tác phẩm mới của tôi thực sự khiến tôi bất ngờ và ấn tượng. Bởi cho đến lúc ấy Phạm Văn Đoan và tôi vẫn còn xa lạ. Dù tôi biết anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002. Tôi cũng từng mong manh nhớ được mấy câu thơ của anh:“Đâu rồi cái ngày mới gặp/Mây trôi bồng bềnh trên vai/Quên màu thời gian trên tóc/Hồn nhiên mãi tuổi hai mươi”. Đó cũng là những câu trong bài thơ “Hè về” in trong tập thơ “Ngày xưa” của anh xuất bản năm 1997. Sau này anh có thêm tập thơ “Ngưỡng vọng” xuất bản năm 2001 “Thơ lục bát” xuất bản năm 2010 và tập kịch bản phim “Huyền thoại một con đường” năm 1999 nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn về con đường mòn chiến lược mang tên Hồ Chí Minh.

          Phạm Văn Đoan rất hiểu Trường Sơn vì anh là người trong cuộc nhập ngũ năm 1971 biên chế ở một binh trạm Đoàn 559. Đến năm 1985 anh chuyển ngành công tác tại ngành Dầu khí nhờ đó anh có nhiều bút ký ghi chép về ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Có lẽ được sống trong không khí lao động của ngành công nghiệp dầu khí hiện đại lại thường có những chuyến đi bềnh bống trên biển hiện thực cuộc sống và sự thăng hoa cảm xúc giúp anh đã viết nên những bài thơ ca ngợi tình yêu cuộc sống về những người lao động chân thật và có những số phận riêng. Giải C của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao cho tập thơ “Ngưỡng vọng” (NXB Hội Nhà văn 2001) vào năm 2010 là sự động viên xứng đáng.

Trò chuyện với Phạm Văn Đoan biết anh ở huyện Hưng Hà “quê lúa” Thái Bình tuổi Quý Tỵ 1953. Cùng có “gốc” quê nên chúng tôi hợp nhau về cảm nhận nhất là những đề tài sáng tác về nông thôn thời thơ ấu và những kỷ niệm. Anh tâm sự về tính “bảo thủ” của mình khi viết bài thơ “Hè về” là khó tiếp nhận những đổi thay lai căng văn hóa làng. “Thế là mùa hè đã tới/Cho bao nhiêu mốt ra đời/Còn đâu mùa thu năm trước/Tóc người xõa đẫm mắt tôi”. Chưa đủ anh còn phản ứng dữ dội hơn: “Gió ơi thôi đừng thét nữa/Tóc em tôi đã tém rồi/Xin thời gian vòng ngược lại/Cho mùa thu đến cùng tôi”. Có lẽ đó cũng vì Phạm Văn Đoan quá sâu sắc với kỷ niệm một thời học trò thời “Tập làm người lớn không xong/Thói trẻ con cứ tồng ngồng dở dang” (Tìm về).

            Là người lính bước ra từ chiến trường gắn với con đường Trường Sơn huyền thoại nơi ấy đã làm nên những tên tuổi thơ như Phạm Tiến Duật Hữu Thỉnh Nguyễn Trung Thu… Nên Phạm Văn Đoan tự chọn cho mình lối đi riêng để không bị chìm lẫn. Anh từng cùng nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đi trên chuyến xe vận tải của binh trạm trên đường Trường Sơn trong chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào 1971. Chứng kiến những đoàn xe rầm rập nối đuôi nhau hối hả vào Nam rồi những mất mát hy sinh trong chiến tranh thực tế ấy khiến thơ anh đằm lại: “Nâng chén lên mà thẹn/Gợi chiều Xuân chiến trường/Còn miếng lương khô ẩm/Chia nhau giữa đoạn đường./Cùng nhìn. Ứa nước mắt/Ăn. Hay gói để dành/Ì oàng bom đạn giục/Ăn. Rồi đi cho nhanh”. Không nhiều lời nhưng cuộc chiến tranh hiện lên rõ nét trong thơ Phạm Văn Đoan. Đọc những câu thế này ai có thể cầm lòng: “Giờ rượu thì sẵn đấy/ Mà người xa cứ xa” (Rượu Xuân).

            Hai thái cực thơ của Phạm Văn Đoan rất dễ nhận khi đau đau đến tận cùng ngẫm ngợi về thân phận; còn khi anh viết tưởng như bông đùa mà sao thâm thúy càng đọc càng thấy thú vị. Phạm Văn Đoan khá thành công khi viết thơ lục bát nghe nói anh có hẳn một bài thơ lục bát dài về tường thuật một hội nghị văn chương. Tôi từng thích một bài thơ lục bát của anh: “Trời Xuân phơi phới hong tơ/Cô hàng xóm quẩy đôi vò rượu Xuân/Vợ vừa xa rượu đang gần/Ước gì bí tỉ một lần rồi thôi” (Thèm lén).

            Tâm sự về thơ Phạm Văn Đoan cho rằng tài năng làm nên nhà thơ nhưng nhân cách mới quyết định để người làm thơ trở thành nhà thơ đích thực. Anh đã theo nàng thơ từ gần nửa thế kỷ đến nay với anh vẫn: “Còn nguyên đấy một con đò/Còn nguyên đấy một bến bờ đợi mong/Còn nguyên đấy một dòng sông/Còn nguyên đấy một nỗi lòng bâng quơ”. Công tác ở ngành Dầu khí đã có dịp Phạm Văn Đoan cùng nhà thơ Nguyễn Duy và bè bạn thơ hành trình ra tận giàn khoan đọc thơ nói chuyện thơ với cán bộ công nhân viên trên giàn khoan. Giữa mênh mông bầu trời và biển nước những giàn khoan như là điểm nhấn để khơi lên những dòng dầu thắp sáng cho cuộc sống. Ý nghĩa ấy cũng được Phạm Văn Đoan vận vào thơ anh anh luôn cố gắng tìm tòi cho thơ mình mới hơn có ích hơn. Với anh theo nghiệp thơ là “Vương vào sợi nắng sợi gió/Đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

altCuối tháng 4-2011

Nguyễn Đình Xuân

172 View | 8

Báo Hải Dương giới thiệu tập thơ Bóng nắng của Nguyễn Đình Xuân

17/04/2011 10:24:29

        alt 

          Bóng nắng tập thơ thứ hai của Nguyễn Đình Xuân cộng tác viên của Báo Hải Dương cho ta cảm nhận về một tâm hồn thơ luôn luôn rung động trước mọi sự việc đời thường. Cũng cảnh ấy nhiều người cho là sự thường nhưng trong Bóng nắng lại thấy hiện ra những cảm thông chia sẻ. Ví như ở một ngã tư đường phố cơn gió ào qua cuốn chiếc lá rơi tác giả lại cảm nhận được "một phận đời lá hóa thân cuối mùa":

“Chiếc lá như đã từng hạnh phúc

Dù quăn queo hơi ấm cuối ngày

Trở về với phận lắt lay

Hồn lá phiêu diêu nhớ nắng”.

Tứ thơ được đẩy lên:

“Ngã tư đường phố bình lặng

Bao người phận lá trôi qua...”

Bài thơ đâu chỉ viết về lá?

Hay một bài khác viết về thời gian một chấm nhỏ giữa dòng thời gian lặp đi lặp lại: Viết lúc 0 giờ. "Quy ước thôi giữa hôm qua và hôm nay/Ngày đã cũ và ngày mới đến". Tác giả trải lòng mình vào đúng cái khoảnh khắc ấy:

“Tôi thức thấy thời gian lưu luyến

Vì tôi sợ già thêm

Tôi biết là đã sống đến nửa đêm

Còn một nửa là mơ hay thổn thức

Đêm nối đêm thành cuộc đời có thực

Hay ảo ảnh một sớm mai?”.

Một câu hỏi đặt ra cho tác giả đồng thời cho mọi người tự tìm lấy vế trả lời.

Đọc bài Cơm bụi ở phố nhà binh thấy tác giả dẫn dắt ta đi vào những chi tiết của một bữa ăn dân giã của mấy anh lính cũ gặp nhau:

Còn ai nhớ hương rừng cơm lam

Mo cơm của mẹ ngày nhập ngũ

Củ sắn lùi lam lũ

Đất nước qua thời chiến tranh”.

"Lính dã chiến nói năng ào ào/Chẳng nhớ ngày cồn cào cơn đói" mấy khổ thơ mấy lần "chẳng nhớ". Nhưng ở tầng sâu câu chữ họ chẳng thể nào quên... Họ không thể quên đồng đội "giời còn đày những thằng lặn lội/Rừng xưa trọc dấu mất rồi"... Khổ thơ cuối bài làm ta lặng đi:

“Giá như cả tiểu đội cùng ngồi

Ngõ phố này với ly rượu gạo

Nâng cả chiều huyên náo

Quả trứng nằm trên đũa lặng im...”

"Quả trứng nằm trên đũa" hình ảnh ta muốn quên đi nhưng lại hiện diện giữa bàn cơm bụi của đám lính chiến! Cả bài thơ bỗng mờ đi chỉ để lại câu thơ cuối cùng này day dứt lòng ta.

Tập thơ Bóng nắng thật ngẫu nhiên có 99 trang sách. Thơ trải ra nhiều mảng đề tài: tình yêu tình cảm gia đình (Em đến Người đi Phải lòng Thơ tặng vợ Chị tôi Sợi tóc...) các miền quê yêu thương (Góc phố xưa Về quê Rượu Bắc Hà Nhớ Huế Gửi về Bạc Liêu...). Có những nét chấm phá về một cảnh một người nào đó: Cờ tướng vỉa hè Người điên... Có những khoảnh khắc đọng lại: Thời gian Đêm Chiều... Nhưng tất cả đều được chắt lọc qua một tâm hồn đa cảm. Câu chữ có tìm tòi sáng tạo như: Câu thơ thu chưa hát/Sao lòng người heo may (Nghe quan họ ở nhà hàng) Anh ngược chiều lá rụng/Thấy se lòng vu quy... (Chia tay mùa hạ). Trong tập có nhiều bài thơ lục bát chứng tỏ tác giả không dễ dãi coi trọng cả hình ảnh cấu tứ vần điệu như các bài Qua đường cũ Giặt áo Phôi phai Mùa hoa cải... Những câu thơ như "Thương về hai mắt lá răm/Nhớ cơn mưa gọi cõi thăm thẳm lòng" (Nghiêng ngả) và "Tóc buông hong gió mong manh/Một mùa cau chín để thành người dưng" (Đường quê) là những sáng tạo rất riêng của nhà thơ.

Lời Nhà xuất bản Công an nhân dân ghi ở bìa tập thơ Bóng nắng cho biết: Nguyễn Đình Xuân yêu thích sáng tác văn học từ tuổi nhi đồng nhưng bài thơ đầu tiên được đăng trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp năm 1990. Từ đó thơ Nguyễn Đình Xuân xuất hiện đều đặn trên các báo tạp chí...

Với Báo Hải Dương anh là một tác giả thơ khá quen thuộc. Chúc anh đi mãi trên con đường thơ mà anh lựa chọn và đang có nhiều hứa hẹn.

VƯƠNG BẠCH

Nguyễn Đình Xuân

354 View | 8

Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành

13/04/2011 05:11:08

Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành

 alt

          Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi thiếu nhi đã được khẳng định trở thành như một tượng đài đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001 về văn học-nghệ thuật với các tác phẩm “Góc sân và khoảng trời” “Bên cửa sổ máy bay” và “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa 1966-2000)”. Có lẽ ấn tượng quá lớn với thơ anh viết khi còn nhỏ và viết cho tuổi thơ nên có người không ngần ngại nói “Trần Đăng Khoa đã nghỉ hưu ở tuổi thiếu nhi(!)”. Tôi không nghĩ vậy. Mặc dù Trần Đăng Khoa thành công với văn xuôi và phê bình tiểu luận chân dung văn học qua “Đảo chìm”Chân dung và đối thoại” anh vẫn có nhiều đóng góp cho nền thơ ca hiện đại giai đoạn thơ anh sáng tác khi ở tuổi trưởng thành.

          Chia giai đoạn thơ Trần Đăng Khoa sáng tác khi ở tuổi trưởng thành là tôi dẫn theo Nguyễn Chu Nhạc viết về anh in trong tập tiểu luận và chân dung văn học “Những người thắp lửa” (NXB Văn học-2009). Giai đoạn này tính từ năm 1975 khi Trần Đăng Khoa nhập ngũ phục vụ Quân đội. Anh trải qua năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ-ngụy thống nhất đất nước và đi dọc hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam phía Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại rồi trở về thời bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn 35 năm Trần Đăng Khoa trải nhiều diễn biến trong cuộc đời và vị trí công tác nhưng anh vẫn lặng lẽ sáng tác thơ dù không ồn ào. Anh giành giải thưởng cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1982 xuất bản tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” (NXB Tác phẩm mới-1985). Anh in thơ rải rác trên các báo tạp chí xuất bản trong nước và nước ngoài rồi tập hợp trong “Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa” do NXB Lao động xuất bản quý IV-2008.

          Sáng tác và in thơ không nhiều nhưng Trần Đăng Khoa vẫn tạo được nhiều ấn tượng với bạn đọc. Tôi nhớ một bài thơ của anh đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam mà anh viết cách đây ngót 40 năm. Bài thơ “Mưa Xuân”:

“Mưa bay như khói qua chiều

Vòm cây nghe nhỏ giọt đều qua đêm

 

Tiếng mưa vang nhẹ khắp miền

Lòng rung như chiếc lá mềm khẽ sa...


Sáng ra mở cửa nhìn ra

Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô...”

          Câu thơ cuối bài khiến tôi liên tưởng đến sự nghiệp sáng tác thơ của anh ở lúc tuổi trưởng thành: “Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô...”. Những giọt mưa thơ của anh vẫn thấm lòng người đọc vậy mà bao người cứ nhắc đi nhắc lại anh chỉ còn thơ viết cho thiếu nhi viết thời thiếu nhi chỉ là bóng của mình?

          Tôi không nghĩ thế. Trần Đăng Khoa vẫn là cây bút thơ tài hoa khi ở tuổi trưởng thành. Không nhiều người vượt qua anh trong mấy chục năm nay khi viết về vùng đồng bằng Bắc Bộ. Có khi chỉ mấy nét thơ anh đã vẽ ra vùng đất nông thôn miền Bắc rất gợi:

“Đường cỏ lơ mơ nắng

Mái tranh chìm chơi vơi

Vài tán cau mộc mạc

Thả hồn quê lên trời”

(Hoa Lư)

          Đó là sự tiếp nối với những bài thơ viết về quê hương đồng bằng Bắc Bộ mà anh có được từ thời thiếu nhi như “Hạt gạo làng ta” hay những câu thần “Ngoài thềm rơi cái lá đa/Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” hoặc “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”.

          Trần Đăng Khoa nặng lòng với quê hương nơi sinh thành anh và cho anh nguồn thơ để anh trưởng thành. Trong tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” anh có nhiều bài thơ viết ở làng Điền Trì xã Quốc Tuấn (Nam Sách) quê anh. Đó là những bài “Về làng” “Thấp thoi gốc rạ” “Mưa Xuân” “Hồn quê” ngay trong bài thơ lấy tên cho tập thơ của anh “Bên cửa sổ máy bay” anh cũng liên tưởng đến quê hương nơi có người mẹ lam lũ tảo tần của mình. Với anh quê hương là sự vững bền là cốt lõi tâm thức là gốc của con người phải từ tình yêu những người thân quê hương mới làm nên sự nhân văn giá trị của con người đích thực.

Từ quê hương anh đi đến mọi miền đất nước ra nước ngoài. Ở quê người anh lắng lòng để suy ngẫm về cuộc đời về nhân tình thế thái về những mối quan hệ xã hội và quốc tế. Anh từng quan niệm “Cái còn thì vẫn còn nguyên/Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan”. Trước nghĩa trang nơi yên nghỉ của những con người với những số phận khác nhau và anh nhìn ra xã hội với những biến đổi phức tạp qua sự im lặng vĩnh hằng:

“Người hạnh phúc và người đau khổ

Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này

Đều dài rộng như nhau vuông cỏ biếc

Đều ấm lạnh như nhau trong hơi gió heo may”

(Ở nghĩa trang Văn Điển).

          Câu thơ ngỡ tĩnh và lạnh mà đọc lên thấy động ấm áp và rất nhân văn khiến ta phải ngẫm ngợi nhiều. Cũng mạch suy luận ấy trong bài “Đứng trước chùa Giải oan” anh viết:

“Và Bụt nữa những hình người ngơ ngác

Cái thứ đất vô tri được dựng bệ tụng thờ

Thôi hãy cứ tin cho đất mang hồn thánh

Trong sắc màu huyền ảo khói hương đưa”...

          Khi sống và học tập ở nước ngoài chứng kiến những biến cố chính trị sự thay đổi của những giá trị xã hội thơ của anh trở nên ưu tư và gợi nhiều suy nghĩ liên tưởng cho người đọc. Khi đi qua Xu-dơ-đan của nước Nga anh cảm nhận:

“Tháng năm lừng lững đi qua

Chỉ còn mấy đỉnh tháp già ngẩn ngơ

Chiều buông ngọn khói hoang sơ

Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây”.

Rồi qua Bô-rô-đi-nô anh thấy:

“Trời lặng lẽ yên bình

Mưa tuyết bay lất phất

Người thắng với kẻ thua

Giờ đều thành bụi đất”

          Nước Nga có nhiều kỷ niệm với anh đã từng “Uống rượu với người bạn Nga” cùng “ngồi dưới đất” để có “ngã thì không đau”. Nhưng đến năm 1990 trước nguy cơ tan rã của Liên Xô ngay ở Mát-xcơ-va anh chứng kiến:

“Thời gian vẫn đi lạnh lùng khắc nghiệt

Có kiệt tác hôm nay mai đã bẽ bàng rồi

Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính

Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi”

(Mát-xcơ-va mùa Đông 1990).

          Lẽ tự nhiên ở tuổi trưởng thành và khi ngoại tứ tuần ngũ tuần trở đi con người ta thường hay chiêm nghiệm về cuộc đời con người và thế thái. Có thể Trần Đăng Khoa sớm hơn nên những bài thơ về thời cuộc của anh còn nặng tính diễn giải chưa thật đến độ thâm thúy. Có bài thơ đã bị tự anh bóc trần ý lộ rõ hồn cốt khiến chúng trở thành phản ánh hiện thực sự kiện làm mất đi sự hấp dẫn. Ở những bài thơ ấy bạn đọc cảm thấy anh hơi nhiều lời những đoạn thơ lắp ghép chưa thật nhuyễn gây nên sự cọc cạch trong cảm xúc. Nhưng đi qua khu rừng rậm rạp của những diễn giải Trần Đăng Khoa vẫn tài hoa làm nên sự lấp lánh của chiêm nghiệm sự đúc kết mang tính triết học:

“Nào ta cạn chén đi anh

Đời người mấy chốc mà thành cỏ hoa

Biết bao thành lũy quanh ta

Nhắp đi ngoảnh lại đã là khói sương...”

(Với bạn).

          Nổi bật nhất với thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành là mảng thơ viết về bộ đội về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Khác với những nhìn nhận thời niên thiếu “Cháu nghe chú đánh những đâu/Những tàu chiến cháy những tàu bay rơi/Đến đây chỉ thấy chú cười/Chú đi gánh nước chú ngồi đánh bi” Trần Đăng Khoa đã là người trong cuộc nên anh đối diện và thấy rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Anh viết thay lời người lính ở biên giới Tây Nam trước khi ra trận:

“Có điều gì phấp phỏng thế rừng ơi ?

Mà nghe rối cả ruột rừng gió thổi

Ta muốn hít cả đất trời chật căng hai lá phổi

Ôi đêm nay có thể chỉ là một đêm.

Nhưng cũng có khi là cả một đời người”

(Ngày mai ra trận).

          Và khi anh giải thích về sự vụng về của người lính bước ra từ chiến tranh đã trải qua những gian khổ hy sinh không chỉ đối diện với bom đạn mà cả là những cơn đói và hóa chất độc:

“Nếu em biết một thời

Tôi đánh giặc dọc miền rừng nước độc

Tai quen nghe tiếng bom chứ mấy khi nghe nhạc

Bụng quen bao trận đói run người”

(Bài thơ nhỏ tặng Hoàng Thu Hà)

          Di chứng của chiến tranh còn hiện trong “Cô tổng đài hải đảo”:

“Gió biển mặn mòi bạc bao màu áo

Mà cơn sốt rét rừng vẫn còn run trong da”.

          Viết về người lính đi qua chiến tranh và ở trong thời bình thơ của Trần Đăng Khoa dung dị chưa thật nhiều hình ảnh độc đáo nhưng anh vẫn tạo ra điểm nhấn với bạn đọc:

“Đất nước không bóng giặc

Tưởng về gần lại xa

Vẫn gian nan làm bạn

Vẫn gió sương làm nhà”

(Lính thời bình).

Hay:

“Những mùa đi thăm thẳm

Trong mung lung chiều tà

Có bao chàng trai trẻ

Cứ lặng thinh mà già”

(Đỉnh núi).

          Thời bình người lính vẫn gặp nhiều khó khăn chịu những hy sinh thiệt thòi khi phải xa nhà xa vợ con và hiến trọn cả tuổi thanh xuân của mình để làm tròn nhiệm vụ của Đảng Quân đội và Tổ quốc giao. Họ không chỉ đối mặt với khó khăn với kẻ thù giấu mặt mà còn chiến đấu trên mặt trận chống đói nghèo: “Cái nghèo và cái dốt/Bày trận giữa thời bình”. Không những thế thời bình người lính vẫn xông pha ra tuyến trước nơi biên giới hải đảo. Đã có những hy sinh của người lính khi chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ nơi biên giới biển đảo của Tổ quốc. Rất nhiều bài thơ Trần Đăng Khoa viết về bộ đội Trường Sa về người lính Hải quân khẳng định sự phong phú của anh ở mảng đề tài này.  

          Người lính trong thơ Trần Đăng Khoa hiện lên sinh động và rất lãng mạn. Trước khi ra trận họ vẫn thấy “Vầng trăng đêm nay cứ vằng vặc ngang đầu”. Khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới:

“Lán buộc vào hoàng hôn

Ráng vàng cùng đến ở

Bao nhiêu là núi non

Ríu rít ngoài cửa sổ”

(Đỉnh núi).

           Người lính không thể lãng mạn hơn với hình ảnh thơ của Trần Đăng Khoa:

“Bỗng ngời ngời chóp núi

Em xoè ô thăm ta?

Bàng hoàng  xô toang cửa

Hoá ra vầng trăng xa.”

(Đỉnh núi).

          Trần Đăng Khoa có duyên và rất dí dỏm hóm hỉnh trong viết văn xuôi phê bình và chân dung văn học trong thơ anh không đánh mất đi điều đó thậm chí đó là đặc sản của thơ anh nhất là khi viết về người lính. Khi anh kể về buổi sinh hoạt văn nghệ của lính đảo đọc thơ anh ai cũng tự mỉm cười:

“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu.

...Thôi lặng yên nghe có gì đang sóng sánh

Hoá ra là sư cụ hát tình ca”.

...Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót

Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau

Ngoài mép biển người đâu lên đông thế

Ồ hoá ra toàn những đá trọc đầu...”

(Lính đảo hát tình ca trên đảo).

Chính sự hài hước hóm hỉnh đã tạo niềm tin lạc quan cho người lính kể cả khi khó khăn gian khổ nhất. Trần Đăng Khoa thể hiện điều đó qua bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”:

“Ôi ước gì được thấy mưa rơi

Mặt chúng tôi ngửa lên như đất

Những màu mây sẽ thôi không héo quắt

Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên

Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền

Chúng tôi không cạo đầu để tóc lên như cỏ

Rồi khao nhau

Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt”.

Rồi sau những diễn biến thời tiết diễn biến của ước mong từ háo hức đến phải đón nhận sự thật phũ phàng vì trời không có một giọt mưa:

“Dù mưa chẳng bao giờ đến nữa

Thì xin cứ hiện lên thăm thẳm cuối chân trời

Để bao giờ cánh lính chúng tôi

Cũng có một niềm vui đón đợi...”.

          Thơ viết về người lính của Trần Đăng Khoa không cầu kỳ có thể là mộc mạc nhưng đằm trong lòng người đọc. Từ sau năm 1975 có nhiều nhà thơ viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính nhưng viết về người lính thời bình đặc biệt là về Trường Sa và Bộ đội Hải quân Trần Đăng Khoa là một trong số ít nhà thơ đã lĩnh ấn tiên phong và có nhiều thành công. Anh đã từng là người lính sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mong rằng nhà thơ Trần Đăng Khoa tiếp tục quan tâm dành thời gian đầu tư sáng tác và bạn đọc chờ những tác phẩm mới của anh về đề tài người lính cả trong chiến tranh trước đây và trong thời bình./.

Hà Nội Giỗ Tổ 2011

Nguyễn Đình Xuân

Nguyễn Đình Xuân

155 View | 8

Hồn thơ Nguyễn Đình Xuân

22/01/2011 15:20:49



  (Đọc "Bóng nắng"  - Nxb Công an nhân dân - Hà Nội - 2010)

                                                                   

 

            Giống như nhiều tập thơ khác "Bóng nắng" của Nguyễn Đình Xuân là một tập thơ phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức thể hiện. Tuy nhiên có thể tìm thấy ở đây có gì riêng biệt của "Bóng nắng"? Cảm nhận của riêng tôi đó là cảm xúc chân thật về nỗi buồn và niềm vui gia đình; về tình yêu và triết luận về cuộc đời-con người.

            1. Chiếm số lượng tương đối lớn số bài trong tập là thơ về nỗi buồn-niềm vui gia đình với cảm xúc chân thật về hai mặt được- mất của người thân.

      Đó là lễ đưa tang bà ngoại trong xót thương có phần day dứt:

                                      Một đời bà ngoại long đong

                                      Trở về với đất chưa xong nỗi niềm

                                                                             (Bà ngoại)

            Đó là tình cảnh "Mẹ bị tai biến/Nằm liệt mấy năm" còn cha thì gầy ốm: "Thân gầy xa xăm" (Ba tôi). Với chị gái nhà thơ tỏ ra rầu rĩ khi bộc lộ về hoàn cảnh của chị: Chị rất yêu nghề dạy học nhưng không thể sống bằng nghề mình yêu nên phải: "Nam Bắc ngược xuôi/Dấn thân chạy chợ/Kiếm tiền nuôi nghề/Bao niềm trăn trở"(Chị tôi). Trong bài thơ tặng nhân sinh nhật vợ yêu thương-đầm ấm là thế nhưng nhà thơ vẫn băn khoăn:

                             Những đêm cô đơn nỗi nhớ chẳng nguôi ngoai

                             Anh thấy em có trong từng nhịp thở

                             Bỗng thấy sợ có một ngày tan vỡ

                             Ngôi nhà hoang khi bếp lửa không hồng

                                           (Viết tặng sinh nhật của vợ)

             Nhà thơ nhìn sợi tóc vương rơi của vợ như nhìn thấy mọi nỗi gian lao vất vả của nàng: "Mình em nuốt dòng nước mắt/Thay anh chăm sóc mẹ cha" (Sợi tóc).

             Tuy nhiên không chỉ vậy anh cũng nói thật những niềm vui hạnh phúc của mình. Đó là khi người vợ thân yêu mang trong mình một sinh linh bé nhỏ:

                                      Một mầm sống nhỏ em mang

                                      Lòng em tràn đầy hạnh phúc

                                                     (Hạnh phúc)  

           Lòng em tràn đầy hạnh phúc? Cả lòng anh cũng vậy chứ sao! Sự quan tâm đối với người phụ nữ mang thai trước hết là quan tâm đến sinh hoạt của họ trong ăn uống đi lại... điều đó chỉ người mẹ là biết rành rẽ nên anh kể về sự quan tâm của mẹ đối với vợ mình cũng tức là sự quan tâm của chính anh đối với người vợ và "nhiệm vụ trực tiếp" của anh là "động viên tinh thần" vợ bằng những lời trò chuyệnn thắm tình:

                                       Nhớ lần gặp nhau đầu tiên

                                      Anh rụt rè nhìn em mãi

                                      Bây giờ bắt đền anh đấy

                                      Biền biệt xa để em mong

                                                                   (Hạnh phúc)

               "Mai cháu đi làm dâu" cũng là bài thơ về niềm vui gia đình. Rất thật thà và ngộ nghĩnh khi nhà thơ kể chuyện mình đã bế ẵm cháu từ thuở cháu còn là một đứa trẻ nhỏ thế mà đến nay cháu đã đi lấy chồng:

                                      Mẹ vui trào nước mắt

                                      Cậu bâng khuâng nụ cười

                                      Cháu làm dâu quê người

                                      Lại nhớ chiều chờ đợi...

             2. Dĩ nhiên tình cảm vợ chồng nêu trên kia cũng là tình yêu nhưng ở đây tôi muốn nói tình yêu với phạm vi riêng không bao hàm tình yêu chồng vợ như đã nêu. Trước hết tình yêu trong "Bóng nắng" bộc lộ nét dịu dàng kín đáo; đó cũng là nét riêng của thơ Nguyễn Đình Xuân.  Ở đây tình yêu không háo hức vội vàng mà dè dặt kín đáo. Nụ hôn trong tình yêu là biểu hiện dĩ nhiên và phổ biến thế mà:

                         Vầng trăng nghiêng xuống làn môi

                         Đừng anh! Em sợ... có người hình như

                         Lá rơi chợt động cuối thu

                         Nghe xôn xao gió hình như ai nhìn

                                                                   (Tình yêu)

           Và có lẽ tình yêu dè dặt ấy đã đưa đến bất thành của tình yêu đưa tình yêu vào nhớ nhung hoài niệm: "Người về nơi ấy còn mong/Tôi mang nghiêng ngả nỗi lòng xôn xao" (Nghiêng ngả). Nỗi hoài niệm tình yêu rõ nhất là ở bài "Đồng Xa":

                             Tôi về lại phố xưa khắc khoải

                             Ngang nhà em cửa đóng đã thay người

                             Ngõ vẫn nhỏ rêu phong dày hoài niệm

                             Đồng Xa giờ em đã xa xôi.

            Rồi nhà thơ hoài niệm với những bài thơ viết mà không tặng: "Tình yêu thường để lại vào thơ/Những đắng cay nỗi buồn thành ngọc" (Những bài thơ anh không viết tặng em). Đúng vậy! Những hoài niệm đẹp về tình yêu bao giờ cũng là những viên ngọc quý!

          Đọc những bài thơ tình yêu của Nguyễn Đình Xuân chúng ta thấy hình ảnh em - người tình luôn hòa quyện cùng cảnh quan đẹp ví dụ: "Chiều như nghiêng gió bên em/Nghe ngàn con sóng vỗ ven chân đồi" (Chuyện tình Hồ Núi Cốc); hoặc: "Quê nhà như trống vắng/Em quẩy mùa hạ đi/Anh ngược chiều lá rụng/Thấy se lòng vu quy..." (Chia tay mùa hạ").

           Các bài thơ "Mùa hoa cải" "Chiều" "Người đi" "Đường quê" "Phải lòng" "Trước ngôi nhà hoang"... là những bài thơ tình hay bộc lộ cảm xúc luyến nhớ man mác với cách sử dụng thi từ thi ngữ khá thành công.

      3. Những bài thơ triết luận trong "Bóng nắng" cũng đáng được đề cập. Bài thơ "Bóng nắng" - bài thơ dùng làm tên cho cả tập - là bài thơ triết luận về cuộc đời:

                                      Sáng bóng dài trước mặt

                                      Trưa bóng tròn trên sân

                                      Quá chiều mình bóng ngược

                                      Đi cúi nhìn bước chân.

            Sáng trưa quá chiều là ba thời điểm của cuộc đời con người. Mỗi thời điểm có một đặc trưng riêng. Nhưng quá chiều là thời điểm người ta có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm cho cuộc đời. Cúi đầu nhìn bước chân để xem bước chân đã đi những bước thành công thế nào thất bại ra sao sau khi đã đi từ sáng qua trưa đến quá chiều để mà bước tiếp tốt hơn! Đó là một cách cảm nhận! Đương nhiên có thể cảm nhận bài thơ theo cách khác. Điều đó chỉ rõ: Bài thơ có ý tưởng "mở" để người đọc rộng đường suy ngẫm.

            Bài thơ "Người điên" kêu gọi sự đồng cảm:

         Người điên hay hát hay cười lắm

               Mà cũng buồn ngay được giữa đường

Điên dại ở trần không xấu hổ

      Ai từng qua khổ nhủ lòng thương?

     Những người cùng khổ nhiều khi không còn biết cuộc đời mình là khổ nữa (khổ mãi nên "quen" đi mà!) Đó là tình cảnh trớ trêu của người nghèo giống như người điên không còn tri giác. Bài thơ đánh thức lương tâm mọi người chúng ta đừng bao giờ bỏ rơi người nghèo cũng như xa lánh người điên. "Người điên" là một bài thơ triết luận giàu tinh nhân văn.

 

                                                           *    *     *

 

           Phong phú về ý tưởng đa dạng về cách thể hiện tập thơ "Bóng nắng" còn đề cập nhiều đề tài và chủ đề khác nữa. Tuy nhiên trên đây chỉ thẩm bình hết sức ngắn gọn về  nội dung cơ bản của tập thơ. Chúc mừng và cảm ơn nhà thơ Nguyễn Đình Xuân về tập thơ "Bóng nắng". Bạn đọc mong được đọc những tập thơ tiếp theo với chất lượng nghệ thuật cao hơn nữa của anh.

                                                                     Hà Nội tháng 12-2010

                                                                                        Mai Thanh 

Nguyễn Đình Xuân

286 View | 6

Thăng trầm qua "Hồ Than Thở"

29/04/2010 01:27:01

 
Thang Ngọc Pho

 

HỒ THAN THỞ

 

Trời xanh không một gợn mây

Hẳn là trời có những ngày không xanh

 

Mặt hồ yên ả long lanh

Hình như đã có thác ghềnh ngày xưa

 

Chiều nay nắng toả đồi thưa

Thể nào cũng có chiều mưa trắng đồi.

 

                           Đà Lạt 1995



THĂNG TRẦM QUA "HỒ THAN THỞ"

 

          Ai đã từng đến Đà Lạt ghé chơi hồ Than Thở hẳn nhớ câu chuyện tình buồn của đôi lứa yêu nhau. Cảm động về mối tình thủy chung từ truyền thuyết và cảnh sơn thủy hữu tình ở đây không chỉ những nhà thơ mà nhiều người đến vãn cảnh hồ trong lòng cũng tràn đầy cảm xúc để viết nên những câu thơ đằm thắm. Thang Ngọc Pho-một nhà giáo hưu trí cũng như vậy ông đã có bài thơ hay về hồ Than Thở. Bài thơ "Hồ Than Thở" của ông không sa đà kể lại chuyện tình mà đưa vào đó những suy tưởng sâu sắc về nhân tình thế thái về sự giao hòa thiên nhiên trong sự đối lập của quy luật tự nhiên. Và hơn hết "Hồ Than Thở" là tâm sự rất trẻ trung của người khao khát sống để yêu.

          Đứng trước sự tĩnh mịch của hồ Than Thở nằm trên đồi cao giữa rừng thông nên thơ mặt nước luôn phẳng lặng trầm ngâm dưới trời nắng "không một gợn mây" Thang Ngọc Pho đã cảm nhận về "những ngày không xanh". Đấy là trời. Còn về nước mặt hồ phẳng lặng long lanh dưới nắng là thế nhưng cũng đã trải qua "những thác ghềnh ngày xưa". Thời tiết đang nắng đấy nhưng có khi trong những ngày đã qua và cả những ngày sắp tới "Thể nào cũng có chiều mưa trắng đồi".

          Bài thơ lục bát sáu câu có thể để từng cặp độc lập. Nhưng cả ba cặp lục bát liên hoàn lại làm cho bài thơ không thể tách rời mà soi xét. Bài thơ không chỉ nêu một ý tưởng là để có cái đẹp mê hồn hiện tại của hồ Than Thở ở đây đã trải qua những nắng lửa giông tố mưa sa những thác ghềnh bão lũ đi qua... mà còn phía sau đó là những quy luật đất trời là sự thăng trầm của những phận người. Không kể về truyền thuyết hồ Than Thở nhưng đọc bài thơ ai cũng cảm nhận về sự không trọn vẹn của đôi lứa yêu nhau. Cái có hôm nay là kết quả sự tiếp nối của đắng cay mất mát đã qua. Thang Ngọc Pho muốn gửi đến cho bạn đọc thông điệp: Sự hợp tan là quy luật của tự nhiên cái đang có là sự tiếp nối của cái đã qua là sự vật được thống nhất bởi những mặt đối lập.  

          Cái sâu sắc ở bài thơ là sự bình dị trong từng câu chữ. Không dùng những từ ngữ lắt léo thậm chí để riêng từng dòng lại rất thường thế mà cặp đôi chúng với nhau thì hồn của chúng ùa về tạo nên thần thái gây ấn tượng mạnh khiến ai đọc cũng phải ngẫm ngợi không thể bỏ qua. Biết rằng ở tuổi "tri thiên mệnh" Thang Ngọc Pho đã viết là những điều uyên thâm. Nhưng sự uyên thâm của "Hồ Than Thở" lại rất trẻ trung khao khát sống để yêu. Trước hết là từng câu thơ tự nhiên phối với nhau thành cặp như tình yêu đôi lứa không thể thiếu nửa bên kia. Có nhà thơ đã viết: "Trải bao giá lạnh và giông tố-Mới sau cùng đi đến được cái hôn". Thang Ngọc Pho cũng vậy từ chuyện tình yêu dang dở bi thương của đôi tình nhân nơi hồ Than Thở ông muốn nói đến giá trị tình yêu. Có ngày nắng đẹp trời trong ai cũng biết là phải trải qua những "chiều mưa trắng đồi". Có sự yên ả long lanh trên mặt hồ đã trải qua những ghềnh thác. Giá trị hạnh phúc trong tình yêu phải trải qua những khổ đau đợi chờ ...

          Hồ Than Thở là một bài thơ hay đọc xong khó có thể quên được.

 

29-4-2010

Nguyễn Đình Xuân

301 View | 2

Sức hấp dẫn của tiểu thuyết "Trại hoa đỏ"

15/08/2009 17:30:25



(Các nhà văn trong buổi tọa đàm tác phẩm của Di Li)


          Tôi đọc chậm tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" của Di Li (tên thật Nguyễn Diệu Linh NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2009). Vừa đọc vừa cảm nhận vẻ đẹp trong từng trang viết về khung cảnh đa sắc đa âm mà tác giả miêu tả. Ở đó có tiếng sáo ma quái sự huyền bí của ngôi nhà cổ nét thâm u của hang đá dưới tượng Cụt Đầu những cánh rừng thiên nhiên và nhân tạo... Đọc xong "Trại hoa đỏ" tôi có cảm giác như mình vừa bước ra từ một ma trận mà Di Li đã bày ra. Rồi lại tự muốn đi vào trong ma trận ấy để tôi gặp lại những cảm xúc qua từng trang sách. Hơn 430 trang sách khổ lớn (kích thước 16x24cm) đã là sự ghi nhận sự lao động sáng tạo bền bỉ của tác giả song điều đáng nói là Di Li đã tạo nên ấn tượng không dễ quên. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" không chỉ là chủ đề trinh thám-kinh dị mà còn là sự khéo léo trong bố trí các tuyến nhân vật cách miêu tả cảnh vật tài tình và lối viết trong sáng khơi gợi cảm xúc cho người đọc.




          Câu chuyện bắt đầu từ hành trình của gia đình Mai Diên Vĩ lên tham quan một vùng đất hoang sơ nơi được chồng chị-Phan Hoàng Lưu mua làm trang trại để tặng sinh nhật vợ. Ngay buổi đầu tiên khi đến vùng đất để lập trang trại vợ chồng Vĩ-Lưu đã gặp giông gió mưa sa. Rồi những diễn biến hãi hùng ở trang trại mang tên "Trại hoa đỏ" với những cái chết bí ẩn những cái xác mang nguyên trang phục trong ngôi nhà họ Quách bộ xương người con gái trong trang phục màu đen dưới lòng hang đá Cụt Đầu; những hồn ma "tung tóe" máu bóng loài chó rừng đen thoắt ẩn thoắt hiện hay tiếng loài chim chết rợn người những hình nhân vấy máu... Thêm những hình ảnh kinh dị được Di Li miêu tả về ngôi nhà của Thiếu tá công an Đỗ Quang Huy trong đêm anh bị sát hại. Những trang viết về kẻ điên dại của dòng họ Quách nét ma quái của lão thày Mo sự khó hiểu của đôi vợ chồng già sống trong trang trại... Đại úy Phan Đăng Bách là người tình cờ đến dự lễ khánh thành Trại Hoa đỏ của vợ chồng Diên Vĩ rồi được thông báo về những cái chết bí ẩn ở trại. Anh lặng lẽ điều tra về những cái chết ấy trong khi đảm nhận điều tra về băng nhóm tội phạm nhí và phối hợp cùng với nữ Đại úy công an Mai Thanh điều tra về cái chết của Thiếu tá Đỗ Quang Huy. Di Li cố gắng khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật Phan Đăng Bách Mai Thanh những điểm sáng trong tuyến nhân vật chính diện của tiểu thuyết. Nhưng ở từng trường đoạn hay đoản văn Di Li khiến người đọc bị ám ảnh từ diễn biến câu chuyện kết hợp với sự huyền bí thông qua cách miêu tả cảnh vật thiên nhiên xung quanh. Sự kết hợp phản ánh tâm lý nhân vật với sự huyền bí thiên nhiên bóng hình ma quái và chất trữ tình siêu thực nhất là khi chuyển đoạn chuyển chương tạo cho tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" thêm cuốn hút độc giả. 

          Chọn thể tài trinh thám-kinh dị cho tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" tự thân thể loại đã tạo nên sự hấp dẫn. Trên thế giới đã có nhiều nhà văn thành công với thể loại tiểu thuyết văn học trinh thám-kinh dị tác phẩm của họ luôn có số lượng phát hành cao trên thị trường. Ở nước ta văn học trinh thám-kinh dị ra đời từ rất sớm với điển hình là "Liêu trai chí dị". Trước năm 1945 văn học nước nhà đã có những chuyện ma quái rùng rợn của Thế Lữ Đái Đức Tuấn. Sau đó thể tài trinh thám-kinh dị chưa được các nhà văn chú trọng sáng tác mà tập trung cho thể loại tiểu thuyết tình báo-phản gián và hình sự. Sự thiếu hụt ấy được Di Li bổ sung với tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" và các truyện ngắn trong các tập "Tầng thứ nhất" "Điệu valse địa ngục" "Bảy ngày trên sa mạc". Thành công của Di Li sẽ là sự khích lệ cho nhiều nhà văn sáng tác ở thể loại này.

          Ở "Trại hoa đỏ" Di Li tạo được sự hấp dẫn trước hết ở việc xây dựng các tuyến nhân vật đặc trưng từng nhân vật thông qua tâm lý hành động và đặc điểm hình dáng tính cách. Dù là nhân vật chính nhân vật phụ hay thoảng qua có khi là con người loài động vật hay loài sinh vật hoang dại sự vật đều tạo được ấn tượng cho bạn đọc qua cách xây dựng và miêu tả của tác giả. Hình ảnh người chiến sĩ công an là chủ thể của tuyến nhân vật chính diện thông qua Phan Đăng Bách Mai Thanh Trung tá Phả điều tra viên Lãm. Còn có những người tốt như bác sĩ Khang người mẹ miền Trung A Cách. Tuyến phản diện đặc trưng là những con người xảo quyệt như Phan Hoàng Lưu Phạm Văn Sương lão thày Mo Ráy kẻ đội lốt công an Trịnh Huy Bình Kahlil Tan. Diên Vĩ là nhân vật chính tiêu biểu của những nạn nhân bị cái ác trà đạp và sự tắc trách của một bộ phận người có trách nhiệm làm công tác quản lý. Cô sinh ra từ người mẹ bất hạnh với người bố vũ phu bất hảo. Rồi cô bị cộng đồng ruồng bỏ ngay từ cái làng quê nghèo đến việc vào trại người điên để có những định kiến sau lần xảy ra sự việc với Sương ở ký túc xá để phải đuổi khỏi trường đại học. Còn những nạn nhân khác mỗi người một hoàn cảnh như Di Bi-nốt-ruồi Gã điên và người con gái cuối cùng của dòng họ Quách vợ chồng bà Miến-A Bằng v.v.. Thông qua miêu tả bạn đọc hình dung được tính cách của các nạn nhân bị giết chết như Đỗ Quang Huy Trần Đàm Anh Lý Minh Văn. Có hai nhân vật đặc biệt trong tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" không thể không nhắc tới đó là bé Bảo và chú chó Lucky. Bé bảo hồn nhiên dù sinh ra trong sự bất hạnh: mắt khuyết tật mẹ bị giết nhưng chính từ những trò chơi cảm giác của bé Bảo đã làm cho câu chuyện hấp dẫn. Chú chó Lucky xuất thân là loài chó hoang khi được cảm hóa đã có những hành động như con người đầy nghĩa khí và trung thành. Từng nhân vật mỗi người một vẻ qua ngòi bút của Di Li trở nên sinh động cuốn hút người đọc.

         Trong "Trại hoa đỏ" Di Li đã ít nhiều thành công trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ công an thông qua các nhân vật như Đại úy Phan Đăng Bách Mai Thanh Trung tá Phả và Thiếu tá Đỗ Quang Huy Người Trưởng phòng điều tra nghiêm khắc. Ở Phan Đăng Bách là một sĩ quan công an cần mẫn trong điều tra cố gắng để tích lũy kinh nghiệm nghiệp vụ tạo cho mình có một "trực giác" tốt để tự khẳng định mình trong công việc. Còn Mai Thanh là một nữ công an tâm huyết với nghề có sự thông minh đến lạnh lùng. Trung tá Phả với hàm răng vàng cái miệng cười rất "đặc biệt" là một con người chân chất tận tụy công việc dễ để bạn đọc nhớ nhất là chi tiết đã quá nửa đêm tìm được manh mối của đứa trẻ đầu tiên bị bắt cóc ở vùng Trại hoa đỏ đã gọi điện cho Phan Đăng Bách. Những nhân vật như Thiếu tá Huy Người trưởng phòng điều tra Điều tra viên Lãm... dù chỉ thoáng qua nhưng cũng thấy đó là những con người vì công việc dám hy sinh cả tính mạng mình để đấu tranh chống tội phạm bảo vệ bình yên cuộc sống nhân dân. Nhưng cũng qua việc xây dựng hình ảnh người chiến sĩ công an cho thấy tác giả còn chưa thật hiểu về nghiệp vụ nguyên tắc tính lô-gic trong điều tra dẫn đến xử lý các vụ việc đơn giản. Có lẽ Di Li còn thiếu vốn sống trong lĩnh vực này.

          Các tuyến nhân vật trong "Trại hoa đỏ" xây dựng đan xen nhau trình tự kết cấu theo chương mục nên bạn đọc dễ theo dõi câu chuyện. Di Li cố gắng đưa người đọc vào ma trận nhưng lại vẽ một con đường thẳng để bạn đọc đi vào ma trận ấy khiến "Trại hoa đỏ" có kết thúc rõ ràng chưa thực sự làm thỏa mãn bạn đọc. Điểm yếu dễ nhận thấy ở tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" là tác giả đã "nhân tạo hóa" khung cảnh sự vật miêu tả nhiều lời có nhiều chỗ người đọc cảm thấy như tác giả quanh quẩn lúng túng với chính các khung cảnh mình vẽ ra. Có thể Di Li cố gắng bám theo quan niệm "Ở nơi nào có con người ở nơi đó có tình yêu và lòng trung thành. Còn cũng ở nơi nào có con người ở nơi đó còn tồn tại sự độc ác nham hiểm và phản trắc" nên cách xây dựng nhân vật giải quyết những mẫu thuẫn xử lý các tình huống cũng trở nên gò bó chưa thật sự đắc địa. Cách Di Li xử lý những trạng huống tâm lý của Diên Vĩ khi vào ma trận rừng nhân tạo dấn chân vào ngôi nhà cổ lục lọi trong lòng hang dưới tượng hình Người Cụt Đầu... chưa thật phù hợp dường như là cố gắng ma quái hóa để truyện ly kỳ hơn. Tuy nhiên bạn đọc dễ chấp nhận bởi sự hấp dẫn lý thú qua cách miêu tả thiên nhiên cảnh vật âm thanh rất trữ tình của "Trại hoa đỏ".

          Một tiểu thuyết đầu tay dày dặn tiên phong trong thể loại trinh thám-kinh dị là thành công của Di Li đưa cô trở thành một trong những nhà văn trẻ nổi bật tài năng và rất tiềm tàng công lực trong ngôi nhà văn học nước ta. Từ "Trại hoa đỏ" và những tập truyện ngắn đã xuất bản tôi tin Di Li sẽ tiếp tục thành công trên con đường sáng tác của mình và đóng góp cho văn học nước nhà những tác phẩm xuất sắc.

8-2009  

     

  Bạn đọc tặng hoa cho nhà văn Di Li      



Di Li và con gái

Nguyễn Đình Xuân

183 View | 0

DI LI VỮNG TIN VỚI CON ĐƯỜNG VĂN HỌC

28/06/2009 19:39:13

       Chỉ trong vòng 5 năm cây bút trẻ Di Li tên thật là Nguyễn Diệu Linh sinh năm 1978 đã cho xuất bản tới mười đầu sách trong đó một tiểu thuyết dầy hơn 500 trang ba tập truyện ngắn hai tập bút ký tự truyện và bốn tập truyện dịch. Là một giảng viên giảng dạy Anh ngữ tại Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội với sức làm việc sức viết như vậy quả là nể phục. Song điều đáng nói nhất là các tác phẩm của Di Li đã gây được sự chú ý của bạn đọc nhất là thể loại trinh thám kinh dị. Tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" do NXB Công an nhân dân ấn hành đã in hàng vạn bản trở thành một trong những cuốn tiểu thuyết "hot" bán chạy nhất trên thị trường sách hiện nay. Cùng với tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" trong những tháng đầu năm 2009 Di Li đã cho ra mắt tập truyện ngắn "7 ngày trên sa mạc" (NXB Văn học) và tập truyện dịch "Bóng đêm bao trùm" (NXB Hội Nhà văn). Có lẽ do "hiện tượng Di Li" như vậy nên sáng 26-6 Ban Công tác nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức một cuộc tọa đàm về cây bút trẻ Di Li xung qua ba tập sách trên. Đến dự cuộc tọa đàm có nhiều nhà văn nhà thơ nhà phê bình hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và các cây bút trẻ bạn đọc cả nước. Sau đây là lược ghi về cuộc tọa đàm của phóng viên báo Quân đội nhân dân.

Quang cảnh buổi tọa đàm:

       Nhà văn Võ thị Xuân Hà: Từ nhiều năm qua Ban Công tác nhà văn trẻ Hội Nhà văn đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm phát hiện và bồi dưỡng những cây bút mới trẻ tuổi. Ba năm qua về thơ chúng ta đã có "Sân thơ trẻ" và đã có những đóng góp tích cực những cây bút tác giả thơ mới mà "Sân thơ trẻ" cỗ vũ đã từng bước khẳng định mình trong nền văn học nước nhà. Còn về văn xuôi đã xuất hiện nhiều tác giả trẻ với những tác phẩm đáng đọc. Di Li là một trong số đó. Tác phẩm của cô được bạn đọc chú ý thu hút nhiều người tìm đọc. Đặc biệt Di Li đã nổ một tiếng pháo trong lĩnh vực văn học trinh thám-kinh dị thể loại mà nền văn học nước ta "đã lãng quên" sau rất nhiều năm. Từ các tập truyện ngắn "Tầng thứ nhất" "Điệu valse địa ngục" đến tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" rồi một số truyện trong "7 ngày trên sa mạc" viết về đề tài trinh thám-kinh dị đã khẳng định Di Li có một chỗ đứng trong đội ngũ các cây bút viết văn trẻ góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà. Sự thu hút và ảnh hưởng từ những tác phẩm của Di Li đã khiến Ban công tác nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc tọa đàm mở này.

       Nhà văn Trần Thanh Hà: Di Li lựa chọn thể loại trinh thám-kinh dị để sáng tác là một sự dấn thân dũng cảm. Tiểu thuyết trinh thám-kinh dị đã có lịch sử gần 200 năm nếu tính từ thời Ét-ga A-lanh Pô (Edgar Allan Poe) nhà văn Mỹ sống ở đầu thế kỷ 19. Từ đó đến nay tiểu thuyết trinh thám-kinh dị đã đạt được những thành tựu vô cùng rực rỡ chúng luôn chiếm vị trí dẫn đầu trong danh sách sách bán chạy nhất (bestseller). Giở lại lịch sử văn học Việt Nam chũng ta cũng đã có truyền thống về truyện kinh dị như "Liêu trai chí dị". Đến những năm 1940 nó được kế thừa bởi truyện đường rừng truyện rùng rợn của Thế Lữ Đái Đức Tuấn. Sau này truyện rùng rợn ma quái hầu như vắng bóng. Trải qua nhiều biến động xã hội một thời ta chỉ có tiểu thuyết tình báo-gián điệp và vụ án không có tiểu thuyết trinh thám đúng nghĩa. Trong bối cảnh đó Di Li là một trong rất ít nhà văn lựa chọn thể loại trinh thám và kinh dị. Tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" là cuốn tiểu thuyết đầu tiên kết hợp giữa thể loại trinh thám và kinh dị ở nước ta. Sau "Trại hoa đỏ" Di Li dự định viết tiếp vài cuốn nữa xoay quanh vai trò phá án của cảnh sát Phan Đăng Bách nếu thế Di Li sẽ là người duy nhất viết tiểu thuyết kiểu xê-ri một kinh nghiệm rất thành công ở các nước phát triển và hiện nay ở nước ta. Tiểu thuyết "Trại hoa đỏ" là một thành công của Di Li câu chuyện hấp dẫn những tuyến vụ án được bài binh bố trận kỹ lưỡng các tình tiết kết nối chặt hầu như không có sự sơ hở độc giả bị "lừa" hoàn toàn. Tiểu thuyết dày khoảng 500 trang khổ lớn có thể nói là khó đọc với người đọc ít thì giờ hiện nay thế nhưng thật khó bỏ xuống khi chưa đọc xong. Nhưng ở "Trại hoa đỏ" chương cuối để cho thủ phạm lộ mặt cô xử lý hơi đơn giản song trong mấy trăm trang sách tác giả đã luôn duy trì độ căng thẳng và các cao trào hợp lý. Giữa các chương tác giả đã đưa vào những trang tả cảnh cảm xúc âm nhạc mà tôi cho rằng khá hay có tác dụng "giải nhiệt" và chuẩn bị cho các pha căng thảng tiếp sau điều này không phải tác giả trinh thám nào cũng làm được. Với "Trại hoa đỏ" Di Li là người giỏi chơi ma trận và đã chơi thắng.

           Nhà văn Trần Thị Trường: "Trại hoa đỏ" không thuộc món ăn ưa thích của tôi nhưng tôi tin nó là món ăn ưa thích của nhiều người trong một hoàn cảnh giống như hiện nay. Có thể nói đây là cuốn sách rất hấp dẫn trí tưởng tượng của tác giả rất dồi dào. Trí tưởng tượng ấy dẫn dắt và lôi cuốn người đọc vào những trang viết của cô buộc người đọc phải đi hết những điều cô muốn bày tỏ rồi tìm ra câu trả lời cho chính mình. Trong "Trại hoa đỏ" bên cạnh máu nước mắt tội ác ma quái và ma trận còn có nhiều trang tả cảnh thiên nhiên khá chau chuốt những trang mô tả cảm xúc am nhạc khá tinh tế. Câu chuyện trong "Trại hoa đỏ" dường như có thật đang xảy ra đâu đó trong đời sống nhưng dường như được bịa ra để minh chứng cho câu đề dẫn của tác giả "Ở nơi nào có con người ở nơi đó còn tình yêu và lòng trung thành. Ở nơi nào có con người ở nơi đó còn tồn tại sự độc ác và phản trắc. Cái đề dẫn vừa đem lại lợi thế vừa gây ra phản ứng ngược vì nó làm cho người đọc cảm giác về sự lên gân nào đó của tác giả. Và nếu không bị sa vào quá nhiều chi tiết đến mức không kiểm soát hết nên đã gây ra hiệu ứng ngược: Hoặc là thừa so với mục tiêu chính hoặc là thiếu đối với bức tranh toàn cảnh thì cuốn sách hấp dẫn hơn nữa.

Nhà văn Văn Giá: Nhân đọc tập truyện "Bảy ngày trên sa mạc" tôi thấy mối quan tâm lớn nhất của Di Li là hiện thực về một thế giới thượng lưu thời hiện đại. Thế giới này bao gồm những loại người như doanh nhân nhà thầu nhà chứng khoán những đại gia những diễn viên sân khấu những người tình là các mỹ nhân danh tiếng. Đó là thế giới hào nhoáng quý tộc nơi không dành cho người nghèo tầng lớp bình dân cho người nhà quê. Đó là một thế giới đô thị bề bộn phức tạp choáng ngợp bởi tiện nghi tiêu xài giao đãi xả hơi giao kèo hợp đồng kinh tế. Đọc Di Li nhiều người có cảm giác người viết ra nó rất thạo đời hiểu theo nghĩa am tường đời sống một thứ đời sống của giới quý tộc thời hiện đại. Phải có một số ưu thế nhất định nào đó mới có thể xông vào vùng hiện thực này được. Người mặc cảm người không quảng giao người ít đi nơi này nơi khác... thì khó có thể tiếp cận và cắt nghĩa về nó. Bao trùm lên toàn bộ các tác phẩm của Di Li trong tập truyện này là sự hòa phối giữa cảm quan hiện thực và cảm quan trào lộng. Đó cũng là điều đáng để bàn.

         Nhà văn Nguyễn Hồng Hạnh: Trước đây viết truyện kinh dị Di Li dùng những yếu tố kinh dị làm nền cốt để xoáy sâu vào nỗi sợ hãi bản năng của con người. góc độ kỹ thuật trong tập "7 ngày trên sa mạc" mới này cũng vậy tác giả vẫn đồng nhất ở chỗ vấn đề thông tin và ý tưởng được trao đổi và xử lý một cách khá tự nhiên. Cũng giống như các tập truyện ngắn trước Di Li vẫn sử dụng lối hành văn khá đơn giản lối viết ngẫu hứng biết cấu tứ hấp dẫn bạn đọc không phải ở từ ngữ mà ở cách xử lý biến cố thông minh sử dụng sự tréo ngoe và những kết thúc bất ngờ. Nếu cốt truyện và văn phong có một mẫu số chung thì sự xuất hiện tập truyện ngắn tiếp theo chứng tỏ và cũng có thể hiểu Di Li đã hình thành nên phong cách và lối đi của riêng mình lối hành văn tỉnh táo đôi khi châm biếm. Di Li men theo nhân vật chứ không phán xét khai thác các tình huống áp dụng thủ pháp miêu tả bên ngoài gần như để nhân vật nói câu chuyện diễn ra còn bạn đọc đóng vai trò quan sát và tự suy ngẫm.



       Nhà văn Nguyên An: Tôi đọc các tác phẩm của Di Li với một sự mê mải hồi hộp cuốn hút dù có truyện đã đọc trên báo tạp chí rồi. Thật khó có thể thoát ra khỏi trường ngữ nghĩa vì trong các trang viết của Di Li rất ám ảnh. Cảm thấy Di Li có vốn liếng thật phong phú dường như mọi chuyện Di Li đều biết cả. Nhưng vốn sống với Di Li cô tuy trẻ nhưng đã cảm nhận đã trải nghiệm và quản lý được chúng. Tác phẩm của Di Li có cấu trúc chặt chẽ tỉ mỉ nhưng không nghĩ hộ bạn đọc. Nổi bật trong tác phẩm của Di Li là viết về lối sống thành thị từ việc trang trí bày biện một ngôi nhà đến tâm lý con người. Di Li dựng truyện về lối sống thành thị thoải mái sắc nét không như nhiều nhà văn viết về thành thị nhưng pha một chút quê ở nông thôn mà tôi đã đọc.

          Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Tôi rất ấn tượng với Di Li qua truyện ngắn "Cocktail" đoạt giải của tạp chí Văn nghệ quân đội với lối văn không rườm rà phù hợp cách đọc hôm nay. Bước tập viết tập nghề Di Li đã bỏ qua rất nhanh. Đọc các tác phẩm của Di Li dễ nhận thấy thường có một kết thúc dở như thế uổng công người viết người đọc vì nó phơi bày hiện thực hóa. Truyện kết thúc đơn giản nhẹ nhàng có truyện không khó đoán diễn biến câu chuyện. Tôi thấy Di Li cũng giống những nhà văn thế hệ 8X 9X có ưu điểm là trình độ ngoại ngữ công nghệ thông tin tốt nhưng cần đầu tư chiều sâu để có những tác phẩm văn học đích thực.

        Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Tôi thường đọc các tác giả trẻ tác phẩm của họ thể hiện trường cảm xúc cuộc sống đa dạng song còn thiếu sự trải nghiệm. Khi tôi đọc Di Li tôi thấy cô có lối viết rất lạ câu chuyện có đầu có cuối; có những lát cắt tinh tế trong các truyện tâm lý xã hội. Di Li không để cảm xúc của mình trong truyện cô viết rất lạnh nhưng câu chuyện kéo bạn đọc lại. Nhân vật trong truyện Di Li lạ rất cuốn hút tôi. Tôi thấy Di Li luôn có ý thức tự làm mới mình và với sự lao động nghiêm túc tôi tin Di Li sẽ đi hết đường văn của mình. Đối với Ban Công tác nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam Di Li là một phát hiện trong nhiệm kỳ này.

Đình Xuân (ghi)   

Nguyễn Đình Xuân

181 View | 8

THÂN PHẬN TÌNH NGƯỜI TRONG TỪNG MẢNH “KÝ ỨC VỤN”

27/05/2009 22:07:11



        

 

          Văn đàn thời gian qua dường như xáo động bởi cuốn tạp văn chọn lọc của nhà văn Nguyễn Quang Lập có nhan đề "Ký ức vụn" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn phối hợp với Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây xuất bản. Sau hai mươi năm kể từ cuốn "Những mảnh đời đen trắng" Nguyễn Quang Lập mới lại ra sách điều đó khiến bạn bè văn chương bạn đọc mừng cho anh. Thực ra "Ký ức vụn" đã được bạn đọc đón nhận từ khi những bài viết trong tập được tác giả công bố trên blog của mình. Chính những bài viết đó khiến blog "Quê choa" của Nguyễn Quang Lập được nhiều người chú ý hàng vạn người truy cập mạng để đọc tác phẩm của anh. Vì những điều đó có người đã nói "Ký ức vụn" là tác phẩm văn học mạng đúng nghĩa.          
      Khi sách phát hành "Ký ức vụn" được giới thiệu tại Nhà sách Đông-Tây (Nhà 11A-Trần Quý Kiên Hà Nội) trong tình cảm nồng ấm của bạn bè và bạn đọc. Rồi Công ty sách Phương Nam tổ chức riêng buổi ký tên lưu niệm vào sách cho bạn đọc tại Nhà sách Phương Nam Book (20-Lý Thái Tổ Hà Nội). "Ký ức vụn" được bạn đọc đón nhận với tình cảm thân thiết như người thân trở về nhà. Và người thân ấy rất đời thường có chút nghiêm túc bông lơn "người ấy" hay nói phương ngôn với giọng rất Quảng Bình ngay cả khi nói tục hơi thái quá. Nhưng nổi bật trong "Ký ức vụn" là những thân phận tình người dù họ ở tầng lớp thượng lưu giới văn nghệ sĩ hay chỉ là những người làng xóm sống xung quanh mình những ngày thơ ấu hoặc người đã gặp trên đoạn đường đời mưu sinh.          
       Tôi đã thật cảm động khi đọc chuyện "Ký ức năm hào" một kỷ niệm không thể phai mờ trong ký ức Nguyễn Quang Lập. Nhân vật trong chuyện là cô bé 11 tuổi bị bom Mỹ sát hại khi cầm năm hào đi chợ. Chuyện "Con chó Giôn" giống cái truyện "Lão Hạc" của Nam Cao nhưng đọc thấy hiện lên một thời lam lũ nghèo khó khắc sâu ngay cả trong giấc mơ trẻ thơ. Nguyễn Quang Lập kể chuyện tự nhiên tưng tửng đọc rồi tự cười một mình nhưng mà sâu mà cay mà thương cho những nhân vật bởi đó là những con người có thật như đang sống quanh mình. Những thằng Á thằng Thanh thằng Tụy rồi "thằng sứt môi" "thằng hai đầu gối" "con ăn ruồi"; từ những anh cu Cá cu Luật cu Đo cu Hoi cu Hó đến những bà Thiêm cô Thi chị Du anh Thu... trong họ có những đức tính tốt xấu có những mâu thuẫn trái ngược nhau. Người hám danh hám lợi; người lành hiền thật thà; người quỷ quyệt xảo trá... Nhưng những con người đó làm nên một đời sống xã hội đa dạng đa chiều; toát lên vẻ đẹp hồn quê và cũng làm sống lại một thời ký ức chiến tranh trên vùng đất lửa Quảng Bình. Trên vùng đất ấy đã có những mảnh đời những phận người khác nhau họ rất bình thường. Có người để lại tấm tình sâu sắc có người "đi như hạt bụi giữa không trung". Làm sao không tình khi anh Á bị chị Du từ chối tình yêu quyết không lấy làm chồng khi còn ở làng đến khi đi bộ đội hy sinh chị lại để tang anh: "Chị cuốn cái tang trắng trên đầu đi từ đầu làng đến cuối xóm mặc kệ ai muốn nói gì thì nói". Cái tình của Hoàn trong chuyện "Thằng sứt môi" đọc chảy nước mắt. Nguyễn Quang Lập khéo gợi cái tình cả trong những con người khùng khùng điên điên; gạn trong họ chất NGƯỜI để mà sống mà chiêm nghiệm để "lòng ta trong sáng hơn".          
       "Ký ức vụn" dành hơn nửa số trang viết về giới văn nghệ sĩ đó là những nhà văn nhà thơ biên kịch đạo diễn diễn viên nhạc sĩ... Không hẳn đó là những hồi ký mảnh hồi ức nhưng qua các chuyện của Nguyễn Quang Lập kể ta hình dung ra đời sống sinh hoạt của họ nhất là các bạn văn ở Huế nơi một thời anh từng công tác ở Hội địa phương. Viết về họ Nguyễn Quang Lập không đánh giá không khái quát sự nghiệp văn chương không đi sâu vào tác phẩm anh chỉ nói về cái tình vẽ chân dung qua một vài tính cách của họ. Những chuyện như thế bạn đọc hiểu thêm một phần đời sống của người làm văn học-nghệ thuật cho dù là họ đã thành danh tác phẩm của học đã đi vào tâm trí người đọc. Người đọc sẽ nhớ dai cái vỗ vai của Nguyễn Khải lời khen thường trực của Hữu Thỉnh tài nói chuyện của Trần Đăng Khoa sức hấp dẫn trong lối đọc thơ và chuyện nợ rượu của Phùng Quán sự cẩn thận trau truốt câu từ của Hoàng Phủ Ngọc Tường; hay về sự say của Nguyễn Trọng Tạo cái lơ ngơ duyên dáng của Tuyết Nga con người điên điên khùng khùng của Bùi Giáng... Mỗi người một tính cách một "tật" riêng điều đó gợi sự tò mò của bạn đọc. Nhưng trùm lên các trang viết ấy là cái tình tính nhân bản vì sự nổi tiếng những thành công của nghiệp văn của tác phẩm đều bắt nguồn và xây dựng trên những cái đời thường mà đôi khi người ta không biết dễ bỏ qua.          
         Nguyễn Quang Lập là người có tài trong cách kể chuyện sử dụng khẩu ngôn linh hoạt và dân dã. Điều đó giúp anh được bạn đọc thích nhất là những người mà hiện nay hay nói là "buôn dưa lê". Anh cũng khéo kết hợp sử dụng lối kể chuyện dân gian trong tiếu lâm sự hóm hỉnh trào lộng và tính thông tấn trong các bài viết. "Ký ức vụn" có năm phần nhưng tôi thích những bài viết về những con người lam lũ ở quê họ có những cá tính cả sự không trọn vẹn về thân thể. Tôi thấy có mình ở "Thương nhớ mười ba" đồng cảm ở sự day dứt khi "hồn quê" xa vắng. Tập sách này Nguyễn Quang Lập lạm dụng nhiều những câu văn mà người ta cho là tục đôi khi quá liều dẫn đến sự tự nhiên chủ nghĩa. Đúng như tên tập sách nhưng những mảnh ký ức của Nguyễn Quang Lập tưởng là vụn vặt nhưng chúng nói lên rất nhiều khía cạnh của xã hội của văn chương và điều đó đáng để bạn đọc suy ngẫm./.
5-2009

 

Có thể bạn sẽ thích