Nguyễn Đình Xuân

97 View | 0

“Hương quê” trong nỗi nhớ người xa xứ

15/12/2016 11:06:20

Bài bình thơ của Nguyễn Đình Xuân

Nguyễn Đình Xuân

108 View | 1

Trăng đêm

15/12/2016 10:55:03

Thật vui khi hôm nay trở lại với VnWeblogs...

Nguyễn Đình Xuân

202 View | 2

Xem Nguyễn Chu Nhạc "... thắp lửa"

13/05/2011 06:30:57

alt

Nhà thơ Trần Đăng Khoa giới thiệu với tôi: “Chú nên tìm đọc Nguyễn Chu Nhạc hắn viết đa dạng đọc sẽ thấy nhiều cái thú vị”. Ấy là trong bữa cơm bụi trên phố Lý Nam Đế khi ấy Trần Đăng Khoa còn công tác ỏ tạp chí Văn nghệ quân đội. Buổi ấy tôi còn được gặp thêm Nguyễn Chu Nhạc Trịnh Bá Ninh… Rồi từ ấy tôi chưa gặp lại Nguyễn Chu Nhạc. Anh cũng chẳng nhớ việc bảo tặng sách cho tôi. Gần đây nhất nhân buổi đưa con đi chơi Nhà sách Tràng Tiền ở Hà Nội nhìn trên giá sách có cuốn “Những người thắp lửa” tập phê bình tiểu luận và chân dung văn học của Nguyễn Chu Nhạc do NXB Văn học ấn hành năm 2009 tôi chọn mua xem anh “thắp lửa” thế nào.

Cuốn sách của anh do nhà thơ Trần Đăng Khoa viết giới thiệu. Từng là bạn học thời đèn sách đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đầu những năm 1970 và là đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay thần thái của Nguyễn Chu Nhạc được nhà thơ “thần đồng” bóc gỡ phơi ra cả. Thế thì đọc xong tôi còn viết gì? Nhưng đọc kỹ thấy có thêm những điều muốn nói thế là tôi tìm đến bàn phím.
Nguyễn Chu Nhạc quả là con “ma xó” đông tây kim cổ rành rọt cả. Theo những gì anh viết tôi biết anh vốn là “con mọt sách” thừa hưởng sự dạy dỗ của người bố am hiểu chữ Hán. Rồi anh tự học tìm hiểu Hán ngữ nên những bài viết của anh về khảo cứu đàm đạo về thơ chữ Hán thơ Đường văn học Trung Quốc rất thú vị và sâu sắc. Bạn đọc cuốn hút với câu chuyện “Mưa Xuân cỏ mọc” bởi anh không chỉ đưa bạn đọc hiểu tường tận về danh nhân “lưỡng quốc trạng nguyên” Nguyễn Trực mà còn tạo nên cảm giác êm ái ấm áp mùa Xuân về ý nghĩa cuộc sống. Nhờ đó đọc sách người ta không cảm thấy nặng nề. Cũng với cách viết dung dị nhưng thấm như mưa Xuân anh dựng nên chân dung nhà thơ Trần Ngọc Thụ mà theo tôi anh đã thành công trong phần viết về thơ chữ Hán của Trần Ngọc Thụ. Thơ chữ Hán vốn được ký thác nhiều triết lý suy ngẫm trải nghiệm nhiều điển tích song qua ngòi bút của Nguyễn Chu Nhạc vẫn rất nhẹ nhàng dễ thấm mà thẫm đẫm tình người.
Có nhiều thời gian sống ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nên Nguyễn Chu Nhạc dễ đồng cảm với các tác phẩm văn học thơ ca viết về mảng đề tài này. Vì thế anh dựng nên khá thành công các chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ Trần Ngọc Thụ Phùng Cung và những bài tản văn đầy chất thơ như “Lối đi đầy mùi khói cuối năm” “Oi nước lên” “Vị minh mạc thác hoa” “Một năm có hăm bốn tiểu tiết” “Tết vui là nhờ có không khí”… Riêng bài “Vị minh mạc thác hoa” anh viết về thú ẩm trà tao nhã từ việc dẫn thơ Chu Thần Cao Bá Quát cách thưởng trà người xưa về ý nghĩa của chúng mà anh cảm được thành gia phong. Theo tôi bài viết giống như một trường ca đầy thi vị. Anh viết về những tác giả-“những người bình thường” trong văn chương nhưng qua đó anh đã khéo léo giới thiệu về truyền thống lịch sử văn hóa con người phong tục ở những làng các vùng miền qua đó thắp lửa trong lòng người đọc nhen lên những tình cảm cao đẹp thêm yêu quê hương con người gìn giữ và vun đắp những giá trị nhân văn con người. Điều đó thể hiện trong các bài viết “Người tìm giữ hồn làng” “Khát vọng văn chương” “Chân dung cuộc sống”. Khi anh viết về các nhà văn nhà thơ: Nữ sĩ Anh Thơ Phùng Quán Phùng Cung Phạm Hổ Trần Đăng Khoa Lâm Huy Nhuận Nguyễn Huy Thiệp… tuy chỉ là những chấm phá phác họa chân dung song đã có những điểm nhấn gây chú ý. Chẳng hạn nữ sĩ Anh Thơ có tiểu thuyết “Răng đen” mà chưa nhiều người biết; nhà thơ Phùng Quán nghẹn lời khi bị ai đó chặn lời; Phạm Hổ chăm chút các cây bút trẻ; Nguyễn Huy Thiệp lặng lẽ Lâm Huy Nhuận có tài bốc thuốc v.v..
Ở mảng văn học nước ngoài Nguyễn Chu Nhạc đề cập đến văn học Nga; văn học Trung Quốc cổ thì có “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần hiện đại có Mạc Ngôn Kim Dung; anh đề cập đến văn học văn hóa Nhật Bản thông qua nhà văn Yasunari Kawabata. Qua những bài viết bạn đọc ghi nhận sự cố gắng của anh chia sẻ với anh về cảm xúc nhưng chưa thỏa mãn về sự nhận diện văn học. Là nhà báo nên Nguyễn Chu Nhạc có điều kiện đi đến nhiều vùng đất địa danh trong nước và quốc tế đến đâu anh cũng chịu khó quan sát ghi chép nhờ đó mà mang đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và suy ngẫm thú vị.
28 bài viết in trong tập “Những người thắp lửa” đã cho anh số lượng tác phẩm riêng xuất bản lên tới con số 7. Tuy nhiên ở tập sách này anh hơi ôm đồm dẫn đến cảm rác rời rạc phân tán sự tập trung của người đọc. Có câu “quý hồ tinh…” nên một số bài viết anh cần phải gia công nhiều hơn để trở thành tác phẩm văn học. Đọc tập sách thấy anh còn để lộ mình nhiều khi cái tôi có hàm lượng nhiều lên thì sẽ gây nên hiệu ứng cản trở cho sự tiếp nhận của người đọc. Đấy là suy nghĩ của riêng tôi và tôi sẽ còn trở lại với những tác phẩm của anh trong các bài viết sau./.
Hải Dương 30-4-2011

Nguyễn Đình Xuân

199 View | 7

Chuyện ở bàn bia

10/05/2011 16:04:12

         Trưa nay ở CLB Điện ảnh quân đội ngồi uống bia với các nhà thơ nhà văn: Nguyễn Việt Chiến Phong Điệp Đinh NGọc Quang NGuyễn Vinh Huỳnh Vân Anh (Khoa sáng tác ĐH Văn hóa HN đi cùng nhà PBLLVH Văn Giá). Văn Giá sang dự sinh nhật vợ nhà thơ Đàm Khánh Phương. Lát sau Thanh Tùng đến. Với tôi Phong Điệp Đinh Ngọc Quang Nguyễn Vinh Huỳnh Thanh Tùng vốn biết nhau từ thời trong "Câu lạc bộ Văn học trẻ Hà Hội) cách nay gần 20 năm. Cuộc gặp gỡ rất thú vị và có bàn một số chuyện tôi sẽ nói trong những dịp sau.

           Nhân Văn Giá có nói với Phong Điệp vào chủ nhật (15-5) tới có hội thảo tại Hải Phòng về hai nhà thơ Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn. Tôi hơi ngạc nhiên vì HNV Hải Phòng lại có thể ghép hai nhà thơ vào chung một cuộc hội thảo nhỉ? Về cơ quan vào xem blog Hoài Khánh thấy có giới thiệu bài viết của Văn Giá về thơ Mai Văn Phấn nhưng tuyệt nhiên không thấy có bài viết về thơ Đồng Đức Bốn. Thấy cũng hơi hụt hẫng đành comment vào blog anh Hoài Khánh những câu thế này:

Một người thì đã ra đi

Một người ở lại ờ thì rằng hai

Một người lục bát đa tài

Một người phá cách biết mai là gì

Thôi thì vai sánh bước đi

Mai sau biết có là gì... một thôi!

Nguyễn Đình Xuân

424 View | 4

Được câu thơ in trên lịch block đại năm 2011

09/05/2011 16:17:50

alt

Hôm nay từ Bệnh viện 7 ở Hải Dương về Hà Nội phấn khởi vì sức khỏe của ba tiến triển tốt lại nhận được thư của bác Nguyễn Hữu Phách báo tin vui. Bác Phách còn gửi kèm cả tờ lịch ngày 11-7-2011 đăng 4 câu thơ của mình. Không biết lịch của NXB nào nhưng như thế là rất quý rồi có được câu thơ in trên lịch dù trên một tờ giấy mỏng manh qua ngày rồi người ta lại bóc đi. Nhưng trong lòng vẫn thấy vui vui...
Đó là một khổ thơ trong bài "Chiều Tây Bắc" của Nguyễn Đình Xuân:
Lưng đồi rừng cây rụng lá
Nghiêng bậc thang nhớ ruộng xanh
Sau mùa chim tìm gốc rạ
Đàn trâu nằm nhai nắng hanh.

(Bài thơ đã được post trong blog này)

Nguyễn Đình Xuân

170 View | 4

ba tôi

06/05/2011 23:22:20

Ba tôi

 

                                                                   *Nguyễn Đình Xuân

 

          Thế là lại đến ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5). Ngày trước khi tôi ra đời tới hơn mười bốn năm nhưng với tôi không bao giờ quên được. Đấy là bởi hơn mười bảy giờ hôm ấy ba tôi là một trong những chiến sĩ có mặt trên đồi Mâm Xôi trong khu vực cánh đồng Mường Thanh chứng kiến sự đầu hàng của Tướng Đờ-cát. Trên người còn mang thương tích chiến tranh do sức ép của bom đạn sập hầm hào nhưng cứ mỗi mùa hè về mắt ba tôi lại như rực sáng nhớ xa xăm về một thời “chân đất súng trường”...

          Ra đi khi tuổi còn rất trẻ với vóc người mảnh mai nhưng ba tôi mang theo cả khối hơn căm giặc Pháp. Ấy là năm 1947 khi ông nội tôi bị đạn moóc-chi-ê của quân Pháp bắn chết trong khi đang cày ruộng. Ông từng đi lính cho quân đội Pháp chiến đấu trên chiến trường châu Âu chống phát xít Đức để bảo vệ nước Pháp. Người làng quê tôi gọi ông là “lính khố đỏ”. Đến năm 1941 ông tôi giải ngũ trở về quê lại gắn bó với đồng ruộng cày cuốc làm ăn. Thế mà trong một cuộc càn quét quân Pháp đồn trú ở khu vực cầu Lai Vu nã moóc-chi-ê vào làng. Đạn nổ dữ dội. Ông tôi đã chạy và ẩn nấp sau đống đất cao giữa đồng nhưng lại thương con trâu đang mắc gông trên ruộng. Ông chạy lại gỡ cho chúng thì trúng đạn.

          Đó là chuyện ba tôi kể lại. Ngày ba ra đi là một đêm tối trời. Đi bí mật ba không cho bà nội và mẹ tôi biết. (Ba tôi được ông bà nội lấy vợ cho khi mới chín tuổi). Vượt qua dòng sông Kinh Thày sang đất Chí Linh cùng với một số thanh niên của làng ba tôi được sung vào bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 98 Đại đoàn 316. Rồi từ ấy theo đường hành quân và chiến đấu của đơn vị ba tôi lần lượt tham gia các chiến dịch Thượng Lào Tây Bắc rồi Điện Biên Phủ... Ngay trên chiến trường Điện Biên Phủ lửa đạn ác liệt ba tôi đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trước ngày kết thúc chiến dịch 5 ngày. Từ đó đến nay ba tôi vẫn giữ nguyên một lý tưởng của Đảng. Tấm bằng và huy hiệu 50 năm tuổi Đảng ba tôi treo trang trọng trong ngôi nhà của mình.

          Đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc năm 1983 sau gần 32 năm phục vụ quân ngũ mắt mờ chân chân đã chậm ba tôi được nghỉ hưu. Nhưng đầu những năm 80 ấy như Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nói “Đất nước đang trong cơn đau đẻ”. Khi ấy đời sống người dân vô cùng khó khăn thiếu thốn kinh tế kiệt quệ bởi sự duy trì cơ chế quản lý tập trung hành chính quan liêu bao cấp kéo dài. Rời chiến trường ba tôi lại xắn quần lội ruộng cuốc đất trồng lúa trồng màu. Đấy cũng là thời kỳ đặc trưng của nông nghiệp nước nhà “cơ khí hóa toàn cuốc”. Vất vả thế nhưng ba tôi vẫn tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng. Và đó là niềm tin có cơ sở vì năm 1986 bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới như là một sự sống còn nếu tổ chức Đảng thực sự là hạt nhân cầm quyền...

          Cuộc đời ba tôi là một hành trình vất vả và không thật may mắn dù ba là người có tài. Đi bộ đội khi đã học hết tiểu học và với kiến thức có được cùng với sự may mắn đã cứu ba tôi nhiều lần thoát chết. Đấy là khi chiến đấu ở đồi D1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ ba tôi chỉ huy một tiểu đội bảy người. Đại liên của địch bắn rát trước mặt mà nhiệm vụ của tiểu đội phải vượt qua làn đạn để bảo đảm thông tin liên lạc. Ba đã tính toán khi địch ngừng bắn ấy là lúc địch thay băng đạn mới lợi dụng lúc đó là tiểu đội vượt qua bãi đất trống với đoạn đường ngắn nhất là chạy tắt theo cạnh huyền tam giác vuông. Cả tiểu đội sống sót sau những trận chiến đấu ác liệt. Tính ba thẳng thắn làm việc trách nhiệm làm hết sức mình nhưng không hề cầu cạnh bợ đỡ. Đã nhiều lần lãnh đạo cấp trên cất nhắc để ba tôi đi học hoặc bổ nhiệm vị trí cao hơn ở đơn vị mới nhưng ba tôi luôn được lãnh đạo chỉ huy đơn vị giữ lại vì “phẩm chất đạo đức tốt làm được việc trách nhiệm và kết qảu cao nếu cho đi học để phát triển thì đơn vị chưa tìm được người để thay thế”! Nếu là người thức thời ba có thể đi “gõ cửa sau” hoặc tìm người giúp. Nhưng ba đã không làm thế. Những đứa con chúng tôi vì vậy cũng phải chịu đựng sự khó khăn vất vả và thiếu thốn nhưng luôn tự hào về ba tôi về tấm lòng trong sáng. Có lẽ đấy là tài sản quý nhất!  

          Tháng Năm năm nay trước ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ thì có đợt gió mùa đông bắc tràn về mang theo những cơn mưa nặng hạt. Ba tôi cảm nhận rõ ràng sự bất thường của thời tiết khắc nghiệt bằng những cơn đau. Ba phải ở bệnh viện đón ngày chiến thắng vì phải trải qua hai cuộc phẫu thuật. Hôm chuẩn bị đi vào phòng phẫu thuật tôi nắm chặt tay ba và động viên: “Chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa có sá chi bom đạn vậy thì có gì phải lo lắng khi vào trận chiến đấu giành giật lấy sức khỏe và sự sống này”. Ba nhìn tôi như muốn nói con hãy yên tâm điều quan trọng nhất để vượt qua là niềm tin. Ba có Thẻ Bảo hiểm y tế dành cho người có công với cách amngj có huân chương huy chương được miễn 100% tiền viện phí tiền thuốc. Nhưng ba tin tưởng ở các thày thuốc quân đội nên ba đồng ý vào điều trị ở Bệnh viện 7 Quân khu 3. Tôi cũng muốn để ba tin vào những người lính những đồng đội của ba của tôi.

          Khi nhìn thấy ba trở về nằm điều trị trong phòng hậu phẫu. Giường bệnh ga trải trắng toát ba nằm thiêm thiếp ngủ. Người lính trận trải qua ba cuộc kháng chiến và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang đấu tranh để giành sự sống. Rồi khi tỉnh lại ba cố chịu những cơn đau do vết mổ. ba vẫn thế không kêu ca không đòi hỏi gì riêng cho mình. Ngay trong cuộc chiến chống bệnh tật này ba tôi vẫn như người lính luôn tin tưởng ở ngày mai. Có lẽ đấy là sự truyền lửa mạnh mẽ từ ba sang chúng tôi những đứa con còn trẻ...

Nguyễn Đình Xuân

169 View | 4

Chênh chao

01/05/2011 21:41:24

alt

Em về đêm chênh chao trăng
Mơn trớn gió chao chênh vườn chuối
Men rượu say chênh chao cùng tuổi
Ai dỗi với cái nguýt dài sương mi mắt chao chênh...
Ơi cơn gió đi nghiêng
Cửa sổ để ngỏ
Chao chênh chàng Chí ngật ngưỡng vào nhà
Không phải là vườn chuối
cũng xa rồi lò gạch
Ta ăn vạ mình chênh chao tuổi
chiều rơi...

Nguyễn Đình Xuân

253 View | 8

Phạm Văn Đoan để thơ “đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

26/04/2011 10:50:51

Phạm Văn Đoan để thơ “đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

alt

Nhà thơ Phạm Văn Đoan (phải) cùng tác giả trên tàu từ Trường Sa về Vũng tàu)

Nguyễn Đình Xuân

           Rất tình cờ trên chuyến tàu ra công tác ở quần đảo Trường Sa tôi gặp nhà thơ Phạm Văn Đoan. Anh là thành viên của đoàn công tác với tư cách cán bộ công đoàn. Chỉ khi đến đảo Song Tử Tây tôi mới biết anh qua lời giới thiệu của anh Đỗ Văn Hậu Phó Tổng giám đốc thường trực Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Ấy là khi tôi tặng tập thơ “Bóng nắng” mới xuất bản của mình cho cán bộ chiến sĩ của đảo. Phạm Văn Đoan bảo: “Tôi đã biết và đọc thơ Nguyễn Đình Xuân rồi qua nhà thơ Trần Anh Thái. Mấy ngày qua trên tàu quên cả say sóng tôi đọc “Bóng nắng”. Lúc ấy tôi mới biết anh và Phó Tổng giám đốc ở chung ca-bin trên tàu.

           Việc anh tranh thủ đọc tác phẩm mới của tôi thực sự khiến tôi bất ngờ và ấn tượng. Bởi cho đến lúc ấy Phạm Văn Đoan và tôi vẫn còn xa lạ. Dù tôi biết anh là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2002. Tôi cũng từng mong manh nhớ được mấy câu thơ của anh:“Đâu rồi cái ngày mới gặp/Mây trôi bồng bềnh trên vai/Quên màu thời gian trên tóc/Hồn nhiên mãi tuổi hai mươi”. Đó cũng là những câu trong bài thơ “Hè về” in trong tập thơ “Ngày xưa” của anh xuất bản năm 1997. Sau này anh có thêm tập thơ “Ngưỡng vọng” xuất bản năm 2001 “Thơ lục bát” xuất bản năm 2010 và tập kịch bản phim “Huyền thoại một con đường” năm 1999 nhân kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn về con đường mòn chiến lược mang tên Hồ Chí Minh.

          Phạm Văn Đoan rất hiểu Trường Sơn vì anh là người trong cuộc nhập ngũ năm 1971 biên chế ở một binh trạm Đoàn 559. Đến năm 1985 anh chuyển ngành công tác tại ngành Dầu khí nhờ đó anh có nhiều bút ký ghi chép về ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Có lẽ được sống trong không khí lao động của ngành công nghiệp dầu khí hiện đại lại thường có những chuyến đi bềnh bống trên biển hiện thực cuộc sống và sự thăng hoa cảm xúc giúp anh đã viết nên những bài thơ ca ngợi tình yêu cuộc sống về những người lao động chân thật và có những số phận riêng. Giải C của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao cho tập thơ “Ngưỡng vọng” (NXB Hội Nhà văn 2001) vào năm 2010 là sự động viên xứng đáng.

Trò chuyện với Phạm Văn Đoan biết anh ở huyện Hưng Hà “quê lúa” Thái Bình tuổi Quý Tỵ 1953. Cùng có “gốc” quê nên chúng tôi hợp nhau về cảm nhận nhất là những đề tài sáng tác về nông thôn thời thơ ấu và những kỷ niệm. Anh tâm sự về tính “bảo thủ” của mình khi viết bài thơ “Hè về” là khó tiếp nhận những đổi thay lai căng văn hóa làng. “Thế là mùa hè đã tới/Cho bao nhiêu mốt ra đời/Còn đâu mùa thu năm trước/Tóc người xõa đẫm mắt tôi”. Chưa đủ anh còn phản ứng dữ dội hơn: “Gió ơi thôi đừng thét nữa/Tóc em tôi đã tém rồi/Xin thời gian vòng ngược lại/Cho mùa thu đến cùng tôi”. Có lẽ đó cũng vì Phạm Văn Đoan quá sâu sắc với kỷ niệm một thời học trò thời “Tập làm người lớn không xong/Thói trẻ con cứ tồng ngồng dở dang” (Tìm về).

            Là người lính bước ra từ chiến trường gắn với con đường Trường Sơn huyền thoại nơi ấy đã làm nên những tên tuổi thơ như Phạm Tiến Duật Hữu Thỉnh Nguyễn Trung Thu… Nên Phạm Văn Đoan tự chọn cho mình lối đi riêng để không bị chìm lẫn. Anh từng cùng nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đi trên chuyến xe vận tải của binh trạm trên đường Trường Sơn trong chiến dịch phản công Đường 9-Nam Lào 1971. Chứng kiến những đoàn xe rầm rập nối đuôi nhau hối hả vào Nam rồi những mất mát hy sinh trong chiến tranh thực tế ấy khiến thơ anh đằm lại: “Nâng chén lên mà thẹn/Gợi chiều Xuân chiến trường/Còn miếng lương khô ẩm/Chia nhau giữa đoạn đường./Cùng nhìn. Ứa nước mắt/Ăn. Hay gói để dành/Ì oàng bom đạn giục/Ăn. Rồi đi cho nhanh”. Không nhiều lời nhưng cuộc chiến tranh hiện lên rõ nét trong thơ Phạm Văn Đoan. Đọc những câu thế này ai có thể cầm lòng: “Giờ rượu thì sẵn đấy/ Mà người xa cứ xa” (Rượu Xuân).

            Hai thái cực thơ của Phạm Văn Đoan rất dễ nhận khi đau đau đến tận cùng ngẫm ngợi về thân phận; còn khi anh viết tưởng như bông đùa mà sao thâm thúy càng đọc càng thấy thú vị. Phạm Văn Đoan khá thành công khi viết thơ lục bát nghe nói anh có hẳn một bài thơ lục bát dài về tường thuật một hội nghị văn chương. Tôi từng thích một bài thơ lục bát của anh: “Trời Xuân phơi phới hong tơ/Cô hàng xóm quẩy đôi vò rượu Xuân/Vợ vừa xa rượu đang gần/Ước gì bí tỉ một lần rồi thôi” (Thèm lén).

            Tâm sự về thơ Phạm Văn Đoan cho rằng tài năng làm nên nhà thơ nhưng nhân cách mới quyết định để người làm thơ trở thành nhà thơ đích thực. Anh đã theo nàng thơ từ gần nửa thế kỷ đến nay với anh vẫn: “Còn nguyên đấy một con đò/Còn nguyên đấy một bến bờ đợi mong/Còn nguyên đấy một dòng sông/Còn nguyên đấy một nỗi lòng bâng quơ”. Công tác ở ngành Dầu khí đã có dịp Phạm Văn Đoan cùng nhà thơ Nguyễn Duy và bè bạn thơ hành trình ra tận giàn khoan đọc thơ nói chuyện thơ với cán bộ công nhân viên trên giàn khoan. Giữa mênh mông bầu trời và biển nước những giàn khoan như là điểm nhấn để khơi lên những dòng dầu thắp sáng cho cuộc sống. Ý nghĩa ấy cũng được Phạm Văn Đoan vận vào thơ anh anh luôn cố gắng tìm tòi cho thơ mình mới hơn có ích hơn. Với anh theo nghiệp thơ là “Vương vào sợi nắng sợi gió/Đọng thành phấp phỏng tim tôi”…

altCuối tháng 4-2011

Nguyễn Đình Xuân

173 View | 8

Báo Hải Dương giới thiệu tập thơ Bóng nắng của Nguyễn Đình Xuân

17/04/2011 10:24:29

        alt 

          Bóng nắng tập thơ thứ hai của Nguyễn Đình Xuân cộng tác viên của Báo Hải Dương cho ta cảm nhận về một tâm hồn thơ luôn luôn rung động trước mọi sự việc đời thường. Cũng cảnh ấy nhiều người cho là sự thường nhưng trong Bóng nắng lại thấy hiện ra những cảm thông chia sẻ. Ví như ở một ngã tư đường phố cơn gió ào qua cuốn chiếc lá rơi tác giả lại cảm nhận được "một phận đời lá hóa thân cuối mùa":

“Chiếc lá như đã từng hạnh phúc

Dù quăn queo hơi ấm cuối ngày

Trở về với phận lắt lay

Hồn lá phiêu diêu nhớ nắng”.

Tứ thơ được đẩy lên:

“Ngã tư đường phố bình lặng

Bao người phận lá trôi qua...”

Bài thơ đâu chỉ viết về lá?

Hay một bài khác viết về thời gian một chấm nhỏ giữa dòng thời gian lặp đi lặp lại: Viết lúc 0 giờ. "Quy ước thôi giữa hôm qua và hôm nay/Ngày đã cũ và ngày mới đến". Tác giả trải lòng mình vào đúng cái khoảnh khắc ấy:

“Tôi thức thấy thời gian lưu luyến

Vì tôi sợ già thêm

Tôi biết là đã sống đến nửa đêm

Còn một nửa là mơ hay thổn thức

Đêm nối đêm thành cuộc đời có thực

Hay ảo ảnh một sớm mai?”.

Một câu hỏi đặt ra cho tác giả đồng thời cho mọi người tự tìm lấy vế trả lời.

Đọc bài Cơm bụi ở phố nhà binh thấy tác giả dẫn dắt ta đi vào những chi tiết của một bữa ăn dân giã của mấy anh lính cũ gặp nhau:

Còn ai nhớ hương rừng cơm lam

Mo cơm của mẹ ngày nhập ngũ

Củ sắn lùi lam lũ

Đất nước qua thời chiến tranh”.

"Lính dã chiến nói năng ào ào/Chẳng nhớ ngày cồn cào cơn đói" mấy khổ thơ mấy lần "chẳng nhớ". Nhưng ở tầng sâu câu chữ họ chẳng thể nào quên... Họ không thể quên đồng đội "giời còn đày những thằng lặn lội/Rừng xưa trọc dấu mất rồi"... Khổ thơ cuối bài làm ta lặng đi:

“Giá như cả tiểu đội cùng ngồi

Ngõ phố này với ly rượu gạo

Nâng cả chiều huyên náo

Quả trứng nằm trên đũa lặng im...”

"Quả trứng nằm trên đũa" hình ảnh ta muốn quên đi nhưng lại hiện diện giữa bàn cơm bụi của đám lính chiến! Cả bài thơ bỗng mờ đi chỉ để lại câu thơ cuối cùng này day dứt lòng ta.

Tập thơ Bóng nắng thật ngẫu nhiên có 99 trang sách. Thơ trải ra nhiều mảng đề tài: tình yêu tình cảm gia đình (Em đến Người đi Phải lòng Thơ tặng vợ Chị tôi Sợi tóc...) các miền quê yêu thương (Góc phố xưa Về quê Rượu Bắc Hà Nhớ Huế Gửi về Bạc Liêu...). Có những nét chấm phá về một cảnh một người nào đó: Cờ tướng vỉa hè Người điên... Có những khoảnh khắc đọng lại: Thời gian Đêm Chiều... Nhưng tất cả đều được chắt lọc qua một tâm hồn đa cảm. Câu chữ có tìm tòi sáng tạo như: Câu thơ thu chưa hát/Sao lòng người heo may (Nghe quan họ ở nhà hàng) Anh ngược chiều lá rụng/Thấy se lòng vu quy... (Chia tay mùa hạ). Trong tập có nhiều bài thơ lục bát chứng tỏ tác giả không dễ dãi coi trọng cả hình ảnh cấu tứ vần điệu như các bài Qua đường cũ Giặt áo Phôi phai Mùa hoa cải... Những câu thơ như "Thương về hai mắt lá răm/Nhớ cơn mưa gọi cõi thăm thẳm lòng" (Nghiêng ngả) và "Tóc buông hong gió mong manh/Một mùa cau chín để thành người dưng" (Đường quê) là những sáng tạo rất riêng của nhà thơ.

Lời Nhà xuất bản Công an nhân dân ghi ở bìa tập thơ Bóng nắng cho biết: Nguyễn Đình Xuân yêu thích sáng tác văn học từ tuổi nhi đồng nhưng bài thơ đầu tiên được đăng trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp năm 1990. Từ đó thơ Nguyễn Đình Xuân xuất hiện đều đặn trên các báo tạp chí...

Với Báo Hải Dương anh là một tác giả thơ khá quen thuộc. Chúc anh đi mãi trên con đường thơ mà anh lựa chọn và đang có nhiều hứa hẹn.

VƯƠNG BẠCH

Nguyễn Đình Xuân

355 View | 8

Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành

13/04/2011 05:11:08

Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành

 alt

          Thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi thiếu nhi đã được khẳng định trở thành như một tượng đài đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy được tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2001 về văn học-nghệ thuật với các tác phẩm “Góc sân và khoảng trời” “Bên cửa sổ máy bay” và “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa 1966-2000)”. Có lẽ ấn tượng quá lớn với thơ anh viết khi còn nhỏ và viết cho tuổi thơ nên có người không ngần ngại nói “Trần Đăng Khoa đã nghỉ hưu ở tuổi thiếu nhi(!)”. Tôi không nghĩ vậy. Mặc dù Trần Đăng Khoa thành công với văn xuôi và phê bình tiểu luận chân dung văn học qua “Đảo chìm”Chân dung và đối thoại” anh vẫn có nhiều đóng góp cho nền thơ ca hiện đại giai đoạn thơ anh sáng tác khi ở tuổi trưởng thành.

          Chia giai đoạn thơ Trần Đăng Khoa sáng tác khi ở tuổi trưởng thành là tôi dẫn theo Nguyễn Chu Nhạc viết về anh in trong tập tiểu luận và chân dung văn học “Những người thắp lửa” (NXB Văn học-2009). Giai đoạn này tính từ năm 1975 khi Trần Đăng Khoa nhập ngũ phục vụ Quân đội. Anh trải qua năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ-ngụy thống nhất đất nước và đi dọc hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam phía Bắc trong những năm chống chiến tranh phá hoại rồi trở về thời bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hơn 35 năm Trần Đăng Khoa trải nhiều diễn biến trong cuộc đời và vị trí công tác nhưng anh vẫn lặng lẽ sáng tác thơ dù không ồn ào. Anh giành giải thưởng cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1982 xuất bản tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” (NXB Tác phẩm mới-1985). Anh in thơ rải rác trên các báo tạp chí xuất bản trong nước và nước ngoài rồi tập hợp trong “Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa” do NXB Lao động xuất bản quý IV-2008.

          Sáng tác và in thơ không nhiều nhưng Trần Đăng Khoa vẫn tạo được nhiều ấn tượng với bạn đọc. Tôi nhớ một bài thơ của anh đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam mà anh viết cách đây ngót 40 năm. Bài thơ “Mưa Xuân”:

“Mưa bay như khói qua chiều

Vòm cây nghe nhỏ giọt đều qua đêm

 

Tiếng mưa vang nhẹ khắp miền

Lòng rung như chiếc lá mềm khẽ sa...


Sáng ra mở cửa nhìn ra

Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô...”

          Câu thơ cuối bài khiến tôi liên tưởng đến sự nghiệp sáng tác thơ của anh ở lúc tuổi trưởng thành: “Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô...”. Những giọt mưa thơ của anh vẫn thấm lòng người đọc vậy mà bao người cứ nhắc đi nhắc lại anh chỉ còn thơ viết cho thiếu nhi viết thời thiếu nhi chỉ là bóng của mình?

          Tôi không nghĩ thế. Trần Đăng Khoa vẫn là cây bút thơ tài hoa khi ở tuổi trưởng thành. Không nhiều người vượt qua anh trong mấy chục năm nay khi viết về vùng đồng bằng Bắc Bộ. Có khi chỉ mấy nét thơ anh đã vẽ ra vùng đất nông thôn miền Bắc rất gợi:

“Đường cỏ lơ mơ nắng

Mái tranh chìm chơi vơi

Vài tán cau mộc mạc

Thả hồn quê lên trời”

(Hoa Lư)

          Đó là sự tiếp nối với những bài thơ viết về quê hương đồng bằng Bắc Bộ mà anh có được từ thời thiếu nhi như “Hạt gạo làng ta” hay những câu thần “Ngoài thềm rơi cái lá đa/Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” hoặc “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”.

          Trần Đăng Khoa nặng lòng với quê hương nơi sinh thành anh và cho anh nguồn thơ để anh trưởng thành. Trong tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” anh có nhiều bài thơ viết ở làng Điền Trì xã Quốc Tuấn (Nam Sách) quê anh. Đó là những bài “Về làng” “Thấp thoi gốc rạ” “Mưa Xuân” “Hồn quê” ngay trong bài thơ lấy tên cho tập thơ của anh “Bên cửa sổ máy bay” anh cũng liên tưởng đến quê hương nơi có người mẹ lam lũ tảo tần của mình. Với anh quê hương là sự vững bền là cốt lõi tâm thức là gốc của con người phải từ tình yêu những người thân quê hương mới làm nên sự nhân văn giá trị của con người đích thực.

Từ quê hương anh đi đến mọi miền đất nước ra nước ngoài. Ở quê người anh lắng lòng để suy ngẫm về cuộc đời về nhân tình thế thái về những mối quan hệ xã hội và quốc tế. Anh từng quan niệm “Cái còn thì vẫn còn nguyên/Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan”. Trước nghĩa trang nơi yên nghỉ của những con người với những số phận khác nhau và anh nhìn ra xã hội với những biến đổi phức tạp qua sự im lặng vĩnh hằng:

“Người hạnh phúc và người đau khổ

Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này

Đều dài rộng như nhau vuông cỏ biếc

Đều ấm lạnh như nhau trong hơi gió heo may”

(Ở nghĩa trang Văn Điển).

          Câu thơ ngỡ tĩnh và lạnh mà đọc lên thấy động ấm áp và rất nhân văn khiến ta phải ngẫm ngợi nhiều. Cũng mạch suy luận ấy trong bài “Đứng trước chùa Giải oan” anh viết:

“Và Bụt nữa những hình người ngơ ngác

Cái thứ đất vô tri được dựng bệ tụng thờ

Thôi hãy cứ tin cho đất mang hồn thánh

Trong sắc màu huyền ảo khói hương đưa”...

          Khi sống và học tập ở nước ngoài chứng kiến những biến cố chính trị sự thay đổi của những giá trị xã hội thơ của anh trở nên ưu tư và gợi nhiều suy nghĩ liên tưởng cho người đọc. Khi đi qua Xu-dơ-đan của nước Nga anh cảm nhận:

“Tháng năm lừng lững đi qua

Chỉ còn mấy đỉnh tháp già ngẩn ngơ

Chiều buông ngọn khói hoang sơ

Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây”.

Rồi qua Bô-rô-đi-nô anh thấy:

“Trời lặng lẽ yên bình

Mưa tuyết bay lất phất

Người thắng với kẻ thua

Giờ đều thành bụi đất”

          Nước Nga có nhiều kỷ niệm với anh đã từng “Uống rượu với người bạn Nga” cùng “ngồi dưới đất” để có “ngã thì không đau”. Nhưng đến năm 1990 trước nguy cơ tan rã của Liên Xô ngay ở Mát-xcơ-va anh chứng kiến:

“Thời gian vẫn đi lạnh lùng khắc nghiệt

Có kiệt tác hôm nay mai đã bẽ bàng rồi

Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính

Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi”

(Mát-xcơ-va mùa Đông 1990).

          Lẽ tự nhiên ở tuổi trưởng thành và khi ngoại tứ tuần ngũ tuần trở đi con người ta thường hay chiêm nghiệm về cuộc đời con người và thế thái. Có thể Trần Đăng Khoa sớm hơn nên những bài thơ về thời cuộc của anh còn nặng tính diễn giải chưa thật đến độ thâm thúy. Có bài thơ đã bị tự anh bóc trần ý lộ rõ hồn cốt khiến chúng trở thành phản ánh hiện thực sự kiện làm mất đi sự hấp dẫn. Ở những bài thơ ấy bạn đọc cảm thấy anh hơi nhiều lời những đoạn thơ lắp ghép chưa thật nhuyễn gây nên sự cọc cạch trong cảm xúc. Nhưng đi qua khu rừng rậm rạp của những diễn giải Trần Đăng Khoa vẫn tài hoa làm nên sự lấp lánh của chiêm nghiệm sự đúc kết mang tính triết học:

“Nào ta cạn chén đi anh

Đời người mấy chốc mà thành cỏ hoa

Biết bao thành lũy quanh ta

Nhắp đi ngoảnh lại đã là khói sương...”

(Với bạn).

          Nổi bật nhất với thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành là mảng thơ viết về bộ đội về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Khác với những nhìn nhận thời niên thiếu “Cháu nghe chú đánh những đâu/Những tàu chiến cháy những tàu bay rơi/Đến đây chỉ thấy chú cười/Chú đi gánh nước chú ngồi đánh bi” Trần Đăng Khoa đã là người trong cuộc nên anh đối diện và thấy rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Anh viết thay lời người lính ở biên giới Tây Nam trước khi ra trận:

“Có điều gì phấp phỏng thế rừng ơi ?

Mà nghe rối cả ruột rừng gió thổi

Ta muốn hít cả đất trời chật căng hai lá phổi

Ôi đêm nay có thể chỉ là một đêm.

Nhưng cũng có khi là cả một đời người”

(Ngày mai ra trận).

          Và khi anh giải thích về sự vụng về của người lính bước ra từ chiến tranh đã trải qua những gian khổ hy sinh không chỉ đối diện với bom đạn mà cả là những cơn đói và hóa chất độc:

“Nếu em biết một thời

Tôi đánh giặc dọc miền rừng nước độc

Tai quen nghe tiếng bom chứ mấy khi nghe nhạc

Bụng quen bao trận đói run người”

(Bài thơ nhỏ tặng Hoàng Thu Hà)

          Di chứng của chiến tranh còn hiện trong “Cô tổng đài hải đảo”:

“Gió biển mặn mòi bạc bao màu áo

Mà cơn sốt rét rừng vẫn còn run trong da”.

          Viết về người lính đi qua chiến tranh và ở trong thời bình thơ của Trần Đăng Khoa dung dị chưa thật nhiều hình ảnh độc đáo nhưng anh vẫn tạo ra điểm nhấn với bạn đọc:

“Đất nước không bóng giặc

Tưởng về gần lại xa

Vẫn gian nan làm bạn

Vẫn gió sương làm nhà”

(Lính thời bình).

Hay:

“Những mùa đi thăm thẳm

Trong mung lung chiều tà

Có bao chàng trai trẻ

Cứ lặng thinh mà già”

(Đỉnh núi).

          Thời bình người lính vẫn gặp nhiều khó khăn chịu những hy sinh thiệt thòi khi phải xa nhà xa vợ con và hiến trọn cả tuổi thanh xuân của mình để làm tròn nhiệm vụ của Đảng Quân đội và Tổ quốc giao. Họ không chỉ đối mặt với khó khăn với kẻ thù giấu mặt mà còn chiến đấu trên mặt trận chống đói nghèo: “Cái nghèo và cái dốt/Bày trận giữa thời bình”. Không những thế thời bình người lính vẫn xông pha ra tuyến trước nơi biên giới hải đảo. Đã có những hy sinh của người lính khi chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ nơi biên giới biển đảo của Tổ quốc. Rất nhiều bài thơ Trần Đăng Khoa viết về bộ đội Trường Sa về người lính Hải quân khẳng định sự phong phú của anh ở mảng đề tài này.  

          Người lính trong thơ Trần Đăng Khoa hiện lên sinh động và rất lãng mạn. Trước khi ra trận họ vẫn thấy “Vầng trăng đêm nay cứ vằng vặc ngang đầu”. Khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới:

“Lán buộc vào hoàng hôn

Ráng vàng cùng đến ở

Bao nhiêu là núi non

Ríu rít ngoài cửa sổ”

(Đỉnh núi).

           Người lính không thể lãng mạn hơn với hình ảnh thơ của Trần Đăng Khoa:

“Bỗng ngời ngời chóp núi

Em xoè ô thăm ta?

Bàng hoàng  xô toang cửa

Hoá ra vầng trăng xa.”

(Đỉnh núi).

          Trần Đăng Khoa có duyên và rất dí dỏm hóm hỉnh trong viết văn xuôi phê bình và chân dung văn học trong thơ anh không đánh mất đi điều đó thậm chí đó là đặc sản của thơ anh nhất là khi viết về người lính. Khi anh kể về buổi sinh hoạt văn nghệ của lính đảo đọc thơ anh ai cũng tự mỉm cười:

“Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc

Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu.

...Thôi lặng yên nghe có gì đang sóng sánh

Hoá ra là sư cụ hát tình ca”.

...Điệu tình ca cứ ngân lên chót vót

Bỗng bàng hoàng nhìn lại phía sau

Ngoài mép biển người đâu lên đông thế

Ồ hoá ra toàn những đá trọc đầu...”

(Lính đảo hát tình ca trên đảo).

Chính sự hài hước hóm hỉnh đã tạo niềm tin lạc quan cho người lính kể cả khi khó khăn gian khổ nhất. Trần Đăng Khoa thể hiện điều đó qua bài thơ “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”:

“Ôi ước gì được thấy mưa rơi

Mặt chúng tôi ngửa lên như đất

Những màu mây sẽ thôi không héo quắt

Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên

Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền

Chúng tôi không cạo đầu để tóc lên như cỏ

Rồi khao nhau

Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt”.

Rồi sau những diễn biến thời tiết diễn biến của ước mong từ háo hức đến phải đón nhận sự thật phũ phàng vì trời không có một giọt mưa:

“Dù mưa chẳng bao giờ đến nữa

Thì xin cứ hiện lên thăm thẳm cuối chân trời

Để bao giờ cánh lính chúng tôi

Cũng có một niềm vui đón đợi...”.

          Thơ viết về người lính của Trần Đăng Khoa không cầu kỳ có thể là mộc mạc nhưng đằm trong lòng người đọc. Từ sau năm 1975 có nhiều nhà thơ viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính nhưng viết về người lính thời bình đặc biệt là về Trường Sa và Bộ đội Hải quân Trần Đăng Khoa là một trong số ít nhà thơ đã lĩnh ấn tiên phong và có nhiều thành công. Anh đã từng là người lính sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam mong rằng nhà thơ Trần Đăng Khoa tiếp tục quan tâm dành thời gian đầu tư sáng tác và bạn đọc chờ những tác phẩm mới của anh về đề tài người lính cả trong chiến tranh trước đây và trong thời bình./.

Hà Nội Giỗ Tổ 2011

Nguyễn Đình Xuân

Có thể bạn sẽ thích