Khao khát mùa Xuân

Đèn giăng đường quê lung linh
Mưa nhẹ mành mành như ảo
Lọn gió nhón nghiêng sân đình
Mắc câu chầu văn chao đảo…
Em co áo sát thân mình
Giữ vẹn nguyên làn hơi ấm
Chòng chành giây phút bên anh
Nghe tiếng thời gian chầm chậm…
Gửi vào xanh biếc lộc cây
Êm đềm chờ năm mới đến
Sắc đào trên má xôn xao
Khi sớm Xuân anh hiển hiện.
Xuân Nhâm Thìn 2012
Chuyện của lính Tây Nam - Nét chấm phá về một cuộc chiến tranh

Chuyện của lính Tây Nam - Nét chấm phá về một cuộc chiến tranh
Cuốn sách “Chuyện của lính Tây Nam” của nhà văn Thủy Hướng Dương (tên thật Vũ Thị Thanh Thủy, sinh năm 1972), được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2010 và được Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục cho ra mắt bạn đọc vào đầu năm 2011. Chỉ trong thời gian ngắn, hai nhà xuất bản có uy tín cùng ấn hành, cho thấy cuốn sách đang được bạn đọc quan tâm. Sự quan tâm đó theo tôi, là do cuốn sách đã đề cập đến đề tài còn ít được các nhà văn hiện nay khai thác, một đề tài khó mà không phải ai cũng dám tiếp cận và thể hiện thực tế cuộc chiến tranh hướng biên giới Tây Nam vào tác phẩm.
Thủy Hướng Dương đã nói rõ lý do viết “Chuyện của lính Tây Nam”: “Khi tôi thực hiện viết cuốn sách thì một số nhân vật của tôi đã vào tuổi xưa nay hiếm, số khác cũng không còn khỏe mạnh. Nếu tôi chậm trễ chút nữa thì rất có thể, rất nhiều tư liệu quý báu về chiến tranh sẽ không còn đến tay tôi cùng độc giả hôm nay và mai sau. Vì tôi biết, hiện nay còn có quá nhiều thông tin về chiến tranh đang vô tình bị chìm vào thời gian”. Như thế rõ ràng thấy tinh thần trách nhiệm ở một người cầm bút trẻ tuổi với cuộc chiến tranh hướng biên giới Tây Nam Tổ quốc. Càng làm rõ hơn sự hấp dẫn của “Chuyện của lính Tây Nam” ở tính chân thật, những tư liệu chiến tranh ngồn ngộn thông qua những người lính ở một đơn vị vận tải, mà Tuấn “tròn” một người lính vận tải quê ở Hà Nội là nhân vật chính. Với cách lý giải của tác giả: Chọn người lính vận tải bởi anh không phải trực tiếp tham gia chiến đấu nên anh có nhiều cơ hội quan sát khá tinh tế về những gì xảy ra xung quanh họ. Với góc nhìn ấy, “Chuyện của lính Tây Nam” thực sự là những chấm phá về một cuộc chiến tranh, mà đã lâu đề tài này chưa được nhìn nhận, khai thác một cách công bằng và toàn diện.
Tôi đã gặp Trung tướng Lê Hai, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, một trong những cán bộ chủ chốt của Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ chỉ đạo tổ chức và tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị cho bộ đội trong cuộc chiến tranh hướng biên giới Tây Nam và Quân tình nguyện Việt Nam ở Cam-pu-chia. Ông cho biết, tại cuộc hội thảo quốc tế “Việt Nam trong thế kỷ XX” tiến hành năm 2000, Ban tổ chức đã “suýt quên” sự kiện chiến tranh hướng biên giới Tây Nam và thời gian 10 năm nước ta làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn Cam-pu-chia (1979-1989). Chỉ đến khi nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh có ý kiến, sự kiện này mới được đề cập trong hội thảo! Điều đó cho thấy, hiện nay đề tài cuộc chiến tranh hướng biên giới Tây Nam và thời gian Quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia đối với nhà văn và những người cầm bút sáng tác là rất khó, dù cuộc chiến mới đi qua gần 35 năm và thời gian Quân tình nguyện Việt Nam rút hoàn toàn khỏi Cam-pu-chia mới hơn 20 năm. Như thế đủ thấy, Thủy Hướng Dương tập trung công sức để hoàn thành tác phẩm “Chuyện của lính Tây Nam” dù chỉ trong gần 150 trang sách khổ thông dụng (13x19)cm, là một nỗ lực rất đáng trân trọng.
Tuấn “tròn” trong “Chuyện của lính Tây Nam” là một thanh niên Hà Nội nhập ngũ năm 1976 vào Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 thuộc đội hình Quân đoàn 1, để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Đến tháng 12-1977, Tuấn cùng đơn vị từ Bỉm Sơn (Thanh Hóa) hành quân vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nam. Từ đó đến tháng 11-1979, khi Tuấn cùng đồng đội tạm biệt Cam-pu-chia để hành quân ra biên giới phía Bắc Tổ quốc, rồi xuất ngũ trở thành công dân về với đời thường cùng với những thương tật do chiến tranh để lại. Hai năm và không gian là một hướng chiến trường biên giới Tây Nam, trên đất bạn Cam-pu-chia đã ghi dấu biết bao sự kiện trong đời người lính vận tải Tuấn “tròn” và những đồng đội của anh. Quãng thời gian ấy với Tuấn được chứng kiến sự thật tàn khốc của chiến tranh, tội ác man rợ của bọn lính Pôn Pốt gây ra cho người dân Cam-pu-chia; là tinh thần dũng cảm chiến đấu, sự gan dạ, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ, hy sinh và lòng nhân đạo của Bộ đội Việt Nam; là những diễn biến tâm lý của người chiến sĩ, kể cả sự sợ hãi khi kinh qua những trận chiến đấu... Những tâm trạng, hành động của Tuấn và đồng đội của anh được Thủy Hướng Dương thể hiện sinh động, chân thật, khiến cho người đọc cảm thấy như sự vật, sự việc ấy đang phơi bày ra trước mắt.
Tuấn “tròn” có tâm hồn lãng mạn, nhưng nhanh nhẹn, tháo vát và gan dạ. Thủy Hướng Dương tập trung khai thác về chiều sâu nội tâm của Tuấn, đấy là việc anh cảm nhận mùa mưa của miền Tây Nam bộ qua tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của nhà văn Phan Tứ; thấy cái khổ cực, ác liệt của chiến tranh qua tác phẩm “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, mà anh đã được đọc. Rồi Tuấn đã “phát khóc vì toàn bộ số anh em thân thiết ở đại đội đều được ở với nhau, chỉ mỗi tôi phải đi đơn vị khác. Mặc dù tôi đã cố kìm, nhưng nước mắt vẫn trào ra”. Lãng mạn, nhưng Tuấn rất nhanh thích nghi với điều kiện mới. Anh được phân công làm tiểu đội trưởng một tiểu đội toàn những người nhập ngũ trước mình, nhưng anh đã xử lý tốt những mối quan hệ, để toàn tiểu đội đoàn kết, cùng nhau thực hiện nhiệm vụ được giao. Cũng từ tính cách ngang tàng, lòng gan dạ, giúp anh cùng tiểu đội bước vào chiến đấu tự tin hơn. Rồi những câu chuyện “làng tôi”, chuyện tiếu lâm, khiến cuộc sống sinh hoạt của người lính thêm phong phú, góp phần giúp người lính vượt khó khăn, gian khổ, lâm trận chiến đấu dũng cảm, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Những tình huống trong chiến đấu cũng được Thủy Hướng Dương thể hiện trong tác phẩm khá thành công. Đó là việc mẹ của Tuấn đến thăm con ở ngay mặt trận, nơi “hòn tên mũi đạn”. Bà mẹ đi công tác ở thành phố Hồ Chí Minh, rồi lặn lội lên biên giới Tây Nam, nơi xảy ra chiến trận để thăm con. Mẹ của Tuấn đã để cho người lái xe quay về thành phố, một mình tự tìm đường đến thăm con, điều đó tạo động lực cho Tuấn và các đồng đội của anh chiến đấu. Rồi những chuyến vận tải tải đạn, gạo, thực phẩm lên tuyến trước; tải thương binh và tử sĩ về tuyến sau, dù khó khăn và có thể hy sinh tính mạng, song Tuấn và đồng đội cùng đơn vị đều quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. Có người bị thương tích do bị ngã; người bị thương, hy sinh do địch phục kích, vướng mìn… song tinh thần đoàn kết, đùm bọc, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ được giao đã thể hiện ý chí và tính kỷ luật chấp hành nhiệm vụ của người chiến sĩ cách mạng. Thủy Hướng Dương không tô hồng, không lên gân khi viết về ý chí, tinh thần của người lính làm nhiệm vụ, nhờ đó mà toát lên tư tưởng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong tác phẩm.
Qua sự thể hiện của Thủy Hướng Dương, “Chuyện của lính Tây Nam” tố cáo mạnh mẽ tội ác diệt chủng man rợ của chế độ Pôn Pốt. Hình ảnh người dân Cam-pu-chia đói rách từ rừng ra, xin gạo, xin ăn; rồi những làng hoang, những cánh đồng chết. Một sự tình cờ, chiến sĩ Ẩn muốn lấy con dao găm Trung Quốc trên một cái hố bên đường. Anh vô tình lội vào một hố chôn người của bọn Pôn Pốt: “Ẩn cứ đạp đến đâu, xương cốt, đầu lâu đã phân hủy thi nhau trồi lên đến đó. Tôi sợ, đứng bất động như trời trồng. Thằng Ẩn cứ như bơi trên cái thứ nước sình lầy đen kịt lẫn với đầu lâu, xương xẩu đó”… Đối lập với sự man rợ mà chế độ Pôn Pốt gây ra là vẻ đẹp tình người, lòng nhân hậu và tình đoàn kết quốc tế của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam. Việc Tuấn “tròn” cùng đồng đội phải nhịn đói, nuốt nước miếng khi thấy hàng hủ tiếu của dân bạn; cho người dân đang đói của bạn đến hạt gạo cuối cùng. Cao hơn cả là tình đồng đội qua việc cứu thương, đưa tử sĩ về tuyến sau của Tuấn và đồng đội; là trận đánh dù có thêm người hy sinh để lấy được tử sĩ về. Là sự chết hụt, thương tích đầy mình của Tuấn và đồng đội, nhưng không ai chùn bước, quên nỗi sợ hãi để làm tròn nhiệm vụ. Xen những câu chuyện kể về sự khốc liệt trong chiến tranh là những câu chuyện hậu phương; chuyện nhận thư nhà và chuyện lấy vợ của Trần Vòng, người lính vận tải không biết chữ, phải nhờ Tuấn viết hộ thư cho vợ… Những câu chuyện chân thật được Thủy Hướng Dương thể hiện tự nhiên, gây xúc động người đọc.
“Chuyện của lính Tây Nam” là một ký sự chiến tranh bởi tính chân thật. Tuy còn thô ráp về cách thể hiện, giống cuốn sách ghi chép tư liệu, song đó là một tác phẩm văn học, đáng đọc. Hy vọng rằng, với chất liệu từ cuốn sách này, Thủy Hướng Dương tiếp tục hoàn thiện, nâng cấp, trở thành một tiểu thuyết dày dặn hơn, có tính văn học cao hơn. Sau tác phẩm “Chúng tôi và MIG-17”, Thủy Hướng Dương đã thành công với “Chuyện của lính Tây Nam”, cuốn sách dù còn là những nét chấm phá nhưng sẽ là tiền đề để những nhà văn, những cây bút trẻ tuổi dấn thân vào đề tài chiến tranh cách mạng, trong đó có cuộc chiến trên hướng Tây Nam còn đang hoang vắng. Hy vọng sẽ có những tác phẩm văn học xứng đáng viết về đề tài này sau “Chuyện của lính Tây Nam”.
Hà Nội 7-1-2012
Trước thềm năm mới

Hồi hộp chờ năm mới
Lại thấy mình cũ hơn
Ngước nhìn nụ đào sớm
Rưng rưng tóc điểm sương...
Phố như thay áo mới
Điểm xuyết màu đỏ cờ
Thiếu nữ trong hoa nắng
Gieo tiếng cười ngẩn ngơ.
Chẳng ngờ năm mới đến
Đẩy mình về ngày xưa
Mắt người trai xao xuyến
Nhớ ngực trăng nhú hờ.
Cố làm mình tươi mới
Chưa thoát nếp nghĩ mòn
Giật mình người đồng nát
Vọng tiếng rao cuối đường...
31-12-2011
Những ngày cùng Tổng biên tập “ra trận”
Lời chủ bút: Nhân dịp báo Hải Dương tròn nửa thế kỷ truyền thống, tôi có viết bài viết này gửi về Tòa soạn báo, đó là một kỷ niệm khó quên. Bài đăng trên báo Hải Dương hằng tháng tháng 11-2011, nay đưa lên đây để mọi ngườii cùng đọc, chia sẻ.
Những ngày cùng Tổng biên tập “ra trận”
* Nguyễn Đình Xuân

Tổng biên tập Hà Cừ tại Hội nghị CTV báo Hải Dương-Côn Sơn 2008
Cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh Hải Dương quy mô lớn lần đầu tiên sau khi tái lập tỉnh và vận hành “Cơ chế 02” vào cuối năm 2002 đối với tôi thật ấn tượng, để lại những kỷ niệm khó phai. Ban biên tập báo Quân đội nhân dân giao cho tôi theo dõi diễn tập và thông tin, viết bài phản ánh kịp thời về cuộc diễn tập gửi về tòa soạn. Nhận nhiệm vụ xong, tôi lập tức lên đường theo Quốc lộ 5 về Hải Dương từ sớm.
Trước khi bước vào diễn tập, Ban chỉ đạo diễn tập của tỉnh Hải Dương có cuộc gặp gỡ với anh em báo chí để cấp phát tài liệu, thông tin về nội dung, mục đích, ý định cuộc diễn tập và lưu ý một số vấn đề có liên quan đến bí mật quân sự. Cuộc gặp gỡ ấy có đại diện Ban Tuyên huấn (nay là Ban Tuyên giáo) của tỉnh, lãnh đạo Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương và anh Hà Cừ, Tổng biên tập báo Hải Dương. Theo dõi phản ánh, tuyên truyền về cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh, báo Hải Dương cử hẳn một nhóm phóng viên tác nghiệp, tôi nhớ trong đó có anh Nguyễn Viết Hiện. Tôi hình dung cuộc diễn tập này rất quan trọng, vì Tổng biên tập báo Hải Dương trực tiếp chỉ huy. Tôi đã biết anh Hà Cừ qua những lần họp cộng tác viên, những nhận xét của anh cho các bài thơ, bài viết tôi gửi về cộng tác với báo. Gặp tôi, Tổng biên tập Hà Cừ bảo: “Mình là thành viên trong khung diễn tập, tham gia vào nhiều nội dung, nên toàn bộ thời gian cuộc diễn tập mình đều có mặt”.
Tổng biên tập Hà Cừ tham gia diễn tập cùng với khối cơ quan Đảng của tỉnh. Anh vào vai diễn rất thuần thục, nhất là việc tham gia xây dựng kế hoạch tuyên truyền, vận động nhân dân nhận thức đúng và chấp hành nghiêm việc chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến. Anh trình bày rõ ràng những ý kiến đóng góp, điều chỉnh nội dung kế hoạch, biện pháp tổ chức thực hiện tại Hội nghị Thông qua các kế hoạch bảo đảm tác chiến phòng thủ của các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh. Khi ấy tôi thấy anh không chỉ là một cán bộ lãnh đạo cơ quan báo mà là một nhà báo, chiến sĩ trên chiến trường thực sự, rất khẩn trương, cấp bách và nội dung đưa ra phù hợp với điều kiện thời chiến của một địa phương có truyền thống “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Tôi đã từng dự nhiều cuộc diễn tập khu vực phòng thủ, nhưng lần đầu được “ra trận” cùng với một Tổng biên tập báo Hải Dương, điều đó thật thú vị.
Đấy là trong nội dung diễn tập di chuyển các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể ra khu sơ tán tập trung để tránh đòn tập kích bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Từ nơi xuất phát đến nơi tập kết trú quân xa hơn 30km, toàn bộ phải hành quân ban đêm để bảo đảm bí mật. Trên đường đi, lái xe không được bật đèn pha mà phải đi trong điều kiện ánh sáng yếu nhằm bảo đảm sát thực tế. Đêm cuối tháng Mười, trời hanh khô, trăng sáng mờ trong sương. Đường vào khu trú quân bí mật mới được đào đắp nên xe đi qua bụi tung mù mịt. Bụi đất đỏ vùng núi Chí Linh bám dày đặc vào cây lá hai bên đường, bám lên tóc, lên mi mắt người, dưới sương trông lấp loáng. Bụi dường như cũng nhuộm cả ánh trăng trở nên màu đỏ quạch. Hình ảnh ấy đã tạo cảm xúc mạnh cho tôi, và ở ngay “mặt trận”, tôi sáng tác bài thơ về cuộc diễn tập này. Viết xong, tôi đưa anh Hà Cừ xem, anh khen “lãng mạn quá, nhất là hình ảnh bụi đất nhuộm ánh trăng”. Anh bảo sẽ sử dụng trên báo ngay số hôm sau để kịp động viên cuộc diễn tập. Có lẽ đó cũng là bài thơ tôi sáng tác và đăng nhanh nhất trên báo. Hôm ấy tôi viết trên tờ giấy xé ra từ cuốn sổ, đưa cho anh Hà Cừ ngay, nên khi bài thơ đăng trên báo rồi, tôi không còn bản thảo lưu lại nữa.
Tổng biên tập Hà Cừ bận dự nhiều cuộc họp theo nội dung cuộc diễn tập và đạo diễn của trên. Tôi cũng tranh thủ gặp gỡ, phỏng vấn cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, dân quân, tự vệ để viết bài gửi về tòa soạn. Ngoài việc đóng “tròn vai” trong diễn tập, tôi thấy anh cùng với phóng viên của báo Hải Dương trực tiếp phỏng vấn, lấy tài liệu để tuyên truyền. Trong cuộc diễn tập này, Báo Hải Dương được khen thưởng về thành tích tuyên truyền, phản ánh kịp thời, sinh động, đậm nét về cuộc diễn tập. Kết quả đó có sự chỉ đạo sát sao, trực tiếp của Tổng biên tập Hà Cừ, là tác phong làm báo “thời chiến” nhanh nhẹn, linh hoạt, nghiêm túc của cán bộ, phóng viên của báo Hải Dương. Tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm trong lấy tư liệu, tác nghiệp nghiệp vụ của các đồng nghiệp báo Hải Dương là hình ảnh khó quên, động viên tôi học hỏi, thêm yêu nghề hơn, nhất là kỷ niệm những ngày cùng Tổng biên tập báo Hải Dương “ra trận” ngày ấy./.
N.Đ.X
Hương thầm trong cặp sách
Lang thang trên mạng, gặp được bài viết của bạn Hà Công Trường viết về một bài thơ của Nguyễn Đình Xuân, xin phép tác giả, đưa về đây để mọi người cùng đọc.
---------
HƯƠNG THẦM TRONG CẶP SÁCH
Hà Công Trường
Thơ là điệu nhạc tâm hồn, là tiếng nói đi từ trái tim đến trái tim của người thi sĩ. Người và thơ luôn là hai chủ thể không thể tách rời trong con người nghệ sĩ – họ luôn sống hết mình, lao động hết mình cho cái đẹp, cái chân – thiện – mĩ, những vần thơ, áng văn như những cứu cánh nâng con người lên trên một tầng cao mới. Không gian thơ luôn luôn được các nhà thơ vận dụng và đổi mới trong đó có những đề tài có thể xem là muôn thuở và quen thuộc với tất cả độc giả và chính cho các nhà thơ ấy là “tình yêu”.
Tình yêu là muôn màu, muôn vẻ nhưng ở thời kỳ này ta đã chào đón sự nở rộ của những tài năng thơ lớn đặc biệt với sự xuất hiện của Xuân Diệu người được coi là “ông hoàng” của thơ tình yêu. Chính vì vậy, rất khó cho những nhà thơ sau này thể hiện đề tài đó, nhưng tình yêu luôn có những cảm xúc những cung bậc riêng của nó và tình yêu ở mỗi lứa tuổi lại là một nét khác biệt. Cái tình yêu ban đầu đầy ngây thơ trong trắng đầy những rung động của thuở mới bước vào yêu như nở mộng trong tâm hồn. “Vẫn nhớ một thời” của Nguyễn Đình Xuân là một bài thơ như thế.
VẪN NHỚ MỘT THỜI
Thơ: Nguyễn Đình Xuân.
Vẫn nhớ một thời hoa phượng nở
Bâng khuâng từ giã tuổi học trò
Con đường ta qua chiều nhiều gió
Đầy nắng chúng mình che bóng mây .
Xa những hàng cây trồng trước cửa
Lớp còn, các bạn của tôi đâu ?
Nhớ hạ năm nào chung nhau hẹn
Nào ngờ mỗi ngày thêm vắng nhau ?
Chỉ có mái trường là nguyên đó
Là nơi nỗi nhớ hẹn nhau về
Bạn bè ơi có còn như thuở
Yêu những câu thơ đến si mê ?
Mùa hạ vẫn nở chùm phượng đỏ
Vẫn mãi trong tôi thuở học trò
Sau những nhọc nhằn lòng thanh thản
Nhớ về một thời đầy ước mơ .
Như một nhà thơ đã từng nói rằng :“Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào. Vâng! Tình yêu – đó là xúc cảm thăng hoa nó gắn kết hai con người xa lạ với nhau bằng sự thương yêu, bằng những rung động nhẹ nhàng, đó là lúc tâm hồn gần kề tâm hồn là khi nỗi nhớ mong da diết. Trong tình yêu mọi ranh giới đều bị xóa bỏ nó không còn sự phân biệt về tuổi tác, không còn sự cách xa về địa lý, không còn sự phân biệt giữa giàu sang, với tình yêu mọi người đều bình đẳng giống nhau. Không vậy mà chàng trai trong đoạn thơ sau đã nói:“Yêu nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua./ Yêu nhau chẳng ngại đường xa./Một ngày không đến thì ba ,bốn ngày”
Đó là tâm trạng của những người đang yêu và được yêu, khi có tình yêu mọi ngăn cách với họ là không còn đáng ngại nữa. Với Nguyễn Đình Xuân tình yêu là nỗi nhớ mong, là sự khát khao và chờ đợi tình yêu của tuổi học trò là cái tình yêu xinh như mộng và đẹp như hoa, cái tình mà ngẩn ngơ ngoài cửa lớp là cả một bức tình thư không dám gởi trao tay, tình yêu trong thơ ông trong sáng và dịu dàng đáng yêu đến thế:“Vẫn nhớ một thời hoa phượng nở/ Bâng khuâng từ giã tuổi học trò/ Con đường ta qua chiều nhiều gió/ Đầy nắng chúng mình che bóng mây”
Cả khổ thơ được kết tinh nên bởi một nỗi nhớ nhẹ nhàng, bằng bâng khuâng lúc rời xa tuổi học trò đầy thơ mộng.Tuổi học trò đầy mơ đầy mộng ấy đã dệt nên trong nhà thơ một mối tình, một chặng đường ta đã cùng em bước đi:
“Con đường ta qua chiều nhiều gió
Đầy nắng chúng mình che bóng mây”
Chiều gió ấy đã khắc sâu vào trong nỗi nhớ của tác giả - một nỗi nhớ không tên, không được định hình, không thể gọi tên. Bóng mây là nhân chứng chứng kiến tình yêu của họ. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình bây giờ mới hiện lên thật rõ ràng và ta chợt nhận ra rằng cái nhớ về hoài niệm về những năm tháng học trò chỉ là cái cớ cho nỗi nhớ của nhà thơ được thăng hoa mà thôi. Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài trong bài “Cánh phượng hồng thuở ấy” đã có những câu thơ đầy ý vị đầy nỗi niềm khi hoài niệm về tuổi học trò:“Chiều nay nhặt cánh phượng hồng bỗng nhớ/ Dấu chân xưa ai để lại sân trường/Ta có một thời yêu không dám ngỏ/ Ngày chia tay em chợt đẹp lạ thường”
Đến đây ta chợt vỡ òa ra tất cả hóa ra tình yêu của ngày xưa chưa kịp nói đã kéo tác giả về lại với ngày xưa. Cái ngày xưa ấy trong tác giả đó là sự nhớ mong cồn cào tác giả để cho nỗi nhớ của mình hòa vào trong một cái nhớ chung lớn lao hơn, cái nhớ của tác giả tưởng chừng như đã hòa vào, trộn lẫn vào cái nhớ bình dị mà rõ ràng mà thao thiết hơn nhiều. Ấy là cái nhớ về trường xưa lớp cũ, là cái nhớ về bạn bè một thuở cắp sách cùng nhau, đó là cái nhớ không còn vu vơ mà đó là cái nhớ của:“Xa những hàng cây trồng trước cửa/ Lớp còn, các bạn của tôi đâu/ Nhớ hạ năm nào chung nhau hẹn/ Nào ngờ mỗi ngày thêm vắng nhau” Đến đây cái nhớ của nhà thơ trở nên sâu lắng hơn nó trở thành một cái gì đó réo gọi tác giả, đó là: những hàng cây trồng trước cửa. Nhà thơ chợt hỏi một câu hỉ đầy nỗi niềm: “Lớp còn, các bạn của tôi đâu”.
Một câu hỏi như để vào hư không, không có tiếng trả lời chỉ có trong nhân vật trữ tình đó là sự cách xa của hiện thực nó không còn là giả dối với nhân vật mà nó là sự thật một sự thật đến phũ phàng. Nhân vật trong bài thơ kia không được chỉ ra đích danh là người nào nhưng ta vẫn thấy con người ấy hiển hiện lên tất cả nỗi nhớ trong bài thơ, người đã đi về để mong gặp lại bạn bè để mong gặp lại những kỷ niệm xưa hồn nhiên trong trắng để gặp lại người đã gieo vào trong lòng mình nỗi nhớ. Bạn bè ngày càng vắng xa họ mải mê đeo đuổi bao mơ ước bao hoài vọng lớn lao họ không còn nhớ về ngày tháng cũ nữa hay cũng có lẽ họ là lớp người đã thành ra thiên cổ nên mỗi năm thêm một vắng không có ai còn nhớ đến kỷ niệm về một thời áo trắng thơ ngây với bao mộng đẹp, bao nhiêu ước mơ và có cả trong đó là những mối tình của thuở ban đầu ngại ngùng không dám nói. Nỗi nhớ của nhân vật trữ tình như được lan xa hơn rõ ràng hơn da diết hơn bởi đó là những gì mà ta và người đã từng giao ước đã từng thề thốt với nhau. Thế nhưng:“Nhớ hạ năm nào chung nhau hẹn/ Nào ngờ mỗi ngày thêm vắng nhau” ?
Cái hẹn mùa hạ kia trở thành một quá khứ và đến đây ta chợt nhận ra cái nhớ và sự trách hờn của nhân vật không còn là vu vơ nữa mà thực ra cái nguyên nhân của nỗi nhớ ấy nó hiện hữu ở đây. Tình yêu thuở học trò là một tình yêu đẹp nó lung linh và trong sáng đến vô ngần, nó không cần phải sự cao sang mà nó chỉ là những gì thân thuộc ta đã có cùng nhau. Nó chỉ là những ngày đi học chung đường là những ngày cùng nhau trú mưa hay đó chỉ là những câu nói bâng quơ để rồi ai đó phải bâng khuâng chột dạ, lòng hỏi lòng. Nỗi nhớ không bị đứt quãng mà nó được gắn liền được xâu chuỗi từ cái riêng đến cái chung từ hi vọng đến thành nỗi khát vọng cháy bỏng để rồi chợt nhận ra rằng mình quá nặng nợ với thời gian với ký ức. Nhân vật trữ tình đã phải thốt lên phải tự vấn và hoài nghi hay cũng chính là tự hỏi và tự trả lời lấy cho chính mình:“Chỉ có mái trường là nguyên đó/ Là nơi nỗi nhớ hẹn nhau về/ Bạn bè ơi có còn như thuở/ Yêu những câu thơ đến si mê” ?
Ngày tháng trôi qua dần trong tất cả chỉ còn đọng lại sự nhớ mong da diết không thay đổi nó vẫn giữ vẹn nguyên trong nó những kỷ niệm những ẩn ức, nó tồn tại như một nhân chứng của thời gian nó đã từng chứng kiến tất cả những yêu thương những hờn giận vu vơ của tuổi học trò hoa mộng trong sáng. Kỷ niệm của tuổi học trò luôn là một vùng trời thật đẹp thật yên bình cho mỗi người, là nơi cứu cánh những ước mơ.
“Mùa hạ vẫn nở chùm phượng đỏ/ Vẫn mãi trong tôi thuở học trò/ Sau những nhọc nhằn lòng thanh thản/ Nhớ về một thời đầy ước mơ”.
"Vẫn nhớ một thời" của Nguyễn Đình Xuân dạt dào kỷ niệm, bao trùm lên bài thơ là nỗi nhớ, nỗi nhớ ấy cứ lan tỏa và làm cho nhịp thơ có cái gì đó nhẹ nhàng uyển chuyển. Không gian trong bài thơ không hề bị bó hẹp mà nó lan tràn theo nỗi nhớ chính vì vậy bài thơ có được cái hài hòa cái lan tỏa trong lòng người đọc. Thời gian trong bài thơ là thời gian mở nhà thơ đã từ hiện tại nhớ về quá khứ và để cho quá khứ nhắn gửi thông tin cho người đọc. Gấp trang thơ lại thấy trong lòng bao cảm xúc ùa về…
Pleiku, ngày 30/10/2011
H.C.T
Thu qua
Thu qua
Mùa thu giờ sắp đi qua
Còn vương chiếc lá gửi quà mùa đông
Chẳng còn cách trở đò sông
Mà sao hanh nắng đa mang người về...
Đành rằng chẳng phải xa quê
Người thường ngang chợ nón mê chẳng còn
Bán đi cái thuở trẻ son
Mình ngồi ế cả trăng non trốn tìm.
Gánh cong sương mắc mái đình
Tiếng cười như muốn nhấn chìm ánh trăng
Mùa đi người chẳng nói năng
Cau khô tủi phận trầu vàng nhà ai...
5.11.2011
Nhà thơ nữ về "Miền gió ngược"
Có lần lên Đà Lạt, tôi được nghe một người bạn ngâm ngợi mấy câu thơ “Cuối đông sương ngủ lưng chừng dốc/Sương tím không hay nắng mé đồi/Ai gọi cho mình…vênh cả guốc/Giật mình vấp phải tiếng thông rơi”. Câu thơ cuối cùng hay quá, đồi núi điệp trùng thế không vấp, lại “vấp tiếng thông rơi”, rất Đà Lạt, rất thơ. Hóa ra những câu thơ này trong bài “Không đề” in trong tập “Miền gió ngược” (NXB Thanh niên ấn hành năm 2010) của nhà thơ nữ quê Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng: Dung Thị Vân.

Biết chị là một quản trị viên trang web Lucbat.com, trước khi về “Miền gió ngược”, chị đã xuất bản hai tập thơ: “Như giấc mơ” (NXB Trẻ - 2007), “Nắng đổ về đâu” (NXB Hội Nhà văn - 2007). “Miền gió ngược” với 45 bài thơ ngắn và hai ca khúc phổ thơ của chị cùng những nhận xét của bạn bè, cho thấy sức viết của Dung Thị Vân dồi dào, đa dạng, đang định hình phong cách riêng của một nhà thơ nữ. Thơ với chị là đời, là hồn và cả nỗi đau: “Ta nghe chênh chếch tiếng cười/Chén buồn chén nhớ rót mời chén đau” (Nắng về đâu).
Người đàn bà mà đã uống rượu thì nhiều nỗi niềm, nhất là khi “Độc ẩm”, chị tâm sự với cha: “Giọt cay giọt đắng ân tình/Con giờ uống cạn bóng mình không trôi/Cha về tro bụi đơn côi/Chuyện trần gian mãi rối bời trong con”. Nỗi niềm riêng được chị thổ lộ trong thơ, như sự giãi bày. Chị có những suy ngẫm về nhân tình thế thái: “Bóng người mờ mịt nẻo xa/Kìa trăng vằng vặc phù hoa cõi người” (Lặng thầm). Viết về những thân phận con người, trước hết là từ cha, mẹ, người thân và chính từ cuộc đời của chị: “Nỗi cơm áo trên vai con trĩu nặng/Thương mẹ già héo hắt bến sông quê” (Nỗi đau). Chị viết về người lao động, đây là hình ảnh của người đàn bà sống bằng nghề ve chai vất vả, lam lũ: “Chị bán mùa xuân của đất trời/Chị mua dòng lệ thế gian rơi/Tôi đếm mùa xuân trong dáng chị/Một mình một bóng một đầy vơi” (Bóng đổ). Dung Thị Vân đã từng trải nghiệm “Cõi yêu khắc khoải không lời/Cõi đời lận đận khóc cười trăm năm” (Cõi tình). Hay: “Khói hương xanh như cỏ/Hồn cha run gió đồng/Hạt bụi nhòe khóe mắt/Dụi tay đầy hư không” (Bên mồ cha). Với một đời con người, sống gửi, thác về, còn lại gì khi ở cõi trần gian?
Trong “Miền gió ngược” của Dung Thị Vân, phần lớn là thơ tình, đề tài muôn thở của con người, nhất là với nhà thơ nữ thì càng dày đậm hơn. Tình yêu của chị có nụ cười, nước mắt hờn dỗi, tan vỡ, đắng cay, có niềm hạnh phúc dù ngắn ngủi để rồi trở thành hoài niệm: “Từ lời anh nói êm đềm/Em giờ thổn thức bên thềm đẫm trăng/Ước gì một ánh sao băng/Vớt lời thề hẹn rồi giăng mái trời” (Ánh sao băng). Và, “Lối xưa một thoáng song hành/Em đan kỷ niệm trong anh bao giờ/Niềm đau đọng mãi trang thơ/Em ôm nỗi nhớ không ngờ nhói đau!” (Lối xưa). Đau đớn ấy là bởi đã có lúc ngập tràn hạnh phúc, nhất là niềm hạnh phúc của người phụ nữ khi được dâng hiến thân thể mình cho người yêu: “Ngực đầy/đêm/lấy sương che/Anh như ngọn gió/vụng về/mở/Trăng” (Gió anh). Câu thơ viết về nhục dục (sex) thật gợi mà cũng ý nhị xiết bao.
Có nhiều câu thơ, tứ thơ trong “Miền gió ngược” của Dung Thị Vân khá hay và sáng tạo. Chẳng hạn bài Rượu cần: “Vít cho đêm xuống ngang cần rượu/Chếnh choáng men say cả núi đồi/Ánh mắt ai cười như có lửa/Sương mù tan loãng giữ bờ môi”. Bài thơ “Miền gió ngược” lấy làm tên chung tập thơ: “Em về miền gió ngược/B’lao, trăng đỏ trời/Vịn đâu, đồi dốc trượt/Thôi, vịn vào chơi vơi”. Đọc bài thơ gợi hình ảnh Tây Nguyên-Đà Lạt, thấy sự mênh mang cả không gian và trong cảm xúc, tâm lý con người. Những câu: “Giật mình vấp phải tiếng thông rơi”, “Heo may chơm chớm mái đầu”, “Đêm mưa bụi rắc thẫn thờ vào nhau”... Tuy thế, trong “Miền gió ngược” còn những bài thơ dễ dãi, nhiều câu thơ sáo mòn, song tôi tin Dung Thị Vân thành công hơn ở những tập thơ sau./.
Hà Nội cuối tháng 9-2011
Nguyễn Đình Xuân
Trở mùa
Đêm nghe sương rơi mơ hồ
Cảm được thời gian gió thoảng
Tóc rụng nhẹ như đang trắng
Thao thức cánh đồng hanh hao.
Lẽ nào mình đang uốn câu?
Lúa đồng sắp vào mùa gặt
Từng ngày chân chim khóe mắt
Thường hay nhớ về ngày xưa.
Gió mùa dù chưa ập đến
Trong người đã thấy nao nao
Giấc ngủ chẳng trọn chiêm bao
Khớp xương chuyển mình đau nhức.
Thì khêu đèn lên cùng thức
Cuối trời cô đơn trăng lu
Ra là mình đã vào thu
Mong manh trở mùa lá rụng...
25-9-2011
Hai ngôi mộ
Hai ngôi mộ
Gọi là mộ phải mộ đâu
Cỏ chồng lên cỏ đan nhau mà thành
Hai người lính trong chiến tranh
Nỗi đau như thể chẳng dành cho ai.
Đạn hai phía để cả hai
Cùng nằm xuống trước ban mai một thời
Cùng vô danh giữa đất trời
Mối xông đắp mộ nên đôi chẳng ngờ!
Thời gian phủ lớp bụi mờ
Hai người đối địch năm xưa nằm kề
Mỗi người đều có miền quê
Có mòn mỏi mẹ mong về bao năm.
Hai ngôi mộ người lính nằm
Cỏ xanh phủ mặt âm thầm nối nhau
Sao an táng được nỗi đau?
Thì cùng bạn mộ tựa đầu trăng lên…
2011
Vào Thu
Ảo mờ sương gợn mang mang
Mỏng như ánh mắt chiều loang chuông chùa
Vầng trăng nghe khuyết sang mùa
Cuối trời bất chợt bóng mưa lắng lòng.
Gió mang hương ổi thả đồng
Em đành chịu phận khê nồng hanh hao
Má đào chẳng được chị trao
Bây giờ vớt mảnh chiêm bao một mình.
Cho dù rau diếp làm đình
Chị riêng một bóng chẳng nhìn em đâu
Sông Ngân Ô Thước bắc cầu
Đò thôi tiếng gọi vẫn đau cách lòng...
Nắng nung đến rám trái bòng
Đa mang thơ chị chẳng buông tha mình
Chiếu chèo mở ở sân đình
Lúng la lúng liếng em rình... trăng suông!
1-8-2011
Khi Nguyễn Thanh Cao vẽ “Khuôn mặt gió”
Khi Nguyễn Thanh Cao vẽ “Khuôn mặt gió”

Hồi anh Nguyễn Thanh Cao làm Tổng biên tập tờ tạp chí Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, tôi đã nhiều lần gặp anh để trao đổi bài vở cộng tác. Tuyệt nhiên chẳng thấy anh bàn chuyện thơ, dù anh biết tôi là một trong những tác giả thơ trẻ của quân đội. Đến khi anh rời quân ngũ và làm cho báo Người cao tuổi, có lẽ do môi trường nên anh chăm chỉ sáng tác thơ hơn? Và bất ngờ năm 2011 này, anh còn tặng tôi tập thơ riêng “Khuôn mặt gió” do NXB Hội Nhà văn ấn hành vào quý 4-2010.
Nguyễn Thanh Cao quê biển Cửa Lò (Nghệ An), vùng đất vốn nhiều nắng gió, nên anh muốn nhận diện sự mặn mòi của gió, tìm trong sự khắc nghiệt của gió Lào để soi bóng quê hương, tri ân nguồn cội. Anh vẽ “Khuôn mặt gió” bắt đầu từ quê hương, nơi sinh thành: “Con ra đời chiếc võng thay nôi/Thiếu manh áo mẹ ủ bằng hơi ấm/Lời mẹ ru trong đêm dài tiếng sóng/Trải mấy mùa bão tố chẳng nguôi ngoai” (Mẹ).
Nét vẽ đầu tiên của anh là người mẹ có bóng “đổ nghiêng dáng đời khó nhọc”. Đọc câu thơ anh viết, tôi lại nhớ đến Hữu Thỉnh trong trường ca “Đường tới thành phố” có câu “Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng/Rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió”. Sức gió mạnh làm nghiêng xiêu dáng mẹ, toát lên sự lam lũ, tảo tần của người mẹ ở quê. Và anh còn tô đậm thêm “Xẻ vào trán cha những đường cày nhọc nhằn/ Đè lên vai mẹ còng lưng gánh gồng sớm tối” (Thời gian). Anh vẽ “Làng quê”: “Làng chênh vênh bên dòng xanh giữa miền gió thốc/Hàng tre còng lưng đổ bóng xuống con đường chi chít vết chân trâu ký ức/Cây lúa oằn mình đẫm giọt mồ hôi nặng trĩu chiêm mùa... Những căn nhà mái rạ sắt se gió hú bốn bề chao rung bần bật/Làng mang bóng tuổi thơ trần truồng phơi mình nơi nắng rát”. Câu thơ dài và có chỗ như nét vẽ dư mực, khiến bức tranh hơi rối, nhưng người thưởng thức tranh hiểu được tâm ý tác giả mà đồng cảm, trân trọng tấm tình người viết với quê hương.
Nguyễn Thanh Cao dùng nhiều mảng màu, tạo không gian, thời gian, bằng hiện thực và tâm thức để vẽ nên “Khuôn mặt gió”. Bức tranh thơ của anh có nhiều ánh sáng và toát lên sự đa cảm của trái tim khao khát niềm yêu. Không gian trong “Khuôn mặt gió” rộng dài, từ làng quê đến mọi miền đất nước, từ Tây Nguyên trong những ngôi nhà Rông đến Hội An phố cổ; anh “Qua bến Giang Đình” ra biển “Buông neo” để có những ngày “Bâng khuâng Sầm Sơn”, thậm chí anh sang cả nước bạn tham quan và nghĩ suy trước đền đài Ăng-ko... Nguyễn Thanh Cao dụng công đan xen thời gian với tâm trạng, nối từ ký ức vào hiện tại, từ mơ đến thực và từ hoài niệm đến khát vọng. Anh tạo những mảng ánh sáng với nắng, với gió, ánh trăng thanh thoát và nồng ấm. Về những khoảng trầm khuất, Nguyễn Thanh Cao cũng có những nét vẽ rất riêng: “Thôi đành-nhỡ nhàng-lối bước/ vin cành trúc trắc anh về” (Thôi đành)
Nguyễn Thanh Cao vẽ “Khuôn mặt gió” bằng 56 bài thơ, ở trong đó gặp nhiều câu thơ, theo tôi, gây được ấn tượng với bạn đọc: “Trời nghiêng một mảnh trăng ngà/Xong mùa em quẩy câu ca ra đình” (Câu ca ra đình), “Nắng hanh hao tóe vàng con mắt/Chốn quê nghèo cát bạc, cồn khô” (Mẹ), “Bãi bờ quen lấp lánh ánh thủy tinh/Trưa hè đổ tròn xoe bóng nón/Mải đùa theo bông chông lăn gió cuốn/Đôi chân trần bỏng rát cát nồng bay” (Quê sóng); “Thời gian cùng ai vò võ/ắp đầy nỗi nhớ giêng hai” (Thời gian); “Anh treo trăng liềm đầu tháng/Chiều buông/Cánh chim bảng lảng/Tóc em rười rượi sông dài” (Bóng tóc). Tuy vậy, Nguyễn Thanh Cao còn để cảm xúc mình dàn trải, trong một số bài thơ việc dụng từ còn mòn sáo hoặc câu chữ không phù hợp, lên gân cốt làm cản trở đến sự tiếp nhận của người đọc. Chẳng hạn như: “Quê em ân tình tỏa bóng”, “Nồng say câu hát/Niềm vui vẫy vùng vỗ nhịp sóng trùng khơi”; “Bờ vai em/áo bạc màu mưa nắng/gió sương khuya sớm chứa chan”. Trong “Khuôn mặt gió” có những bài thơ, câu thơ mô tả về sự mơn trớn, ân ái, đụng chạm da thịt, nhưng chưa thật nhuần nhuyễn, thoát ly sự mô tả nhục dục tầm thường.
Như là sự tự bạch khi Nguyễn Thanh Cao viết: “Tôi cưới tứ thơ như quê tôi cưới chợ/Đón thơ về/Thơ ở lại với mình không?”. Đấy không chỉ là sự trăn trở của riêng anh mà của thảy những người làm thơ, đau đáu niềm thơ. Có thể nói “Khuôn mặt gió” là một đời thơ anh mà “Gió vẫn đêm ngày lẩn khuất đâu đây”...
Hà Nội 15.7.2011
Bất chợt Hải Phòng
Bất chợt Hải Phòng
*Nguyễn Đình Xuân

Như cơn gió biển mùa hè
Anh ào về thổi bùng đóa lửa
Trên hàng phượng rực đỏ
Ngân dài tiếng ve.
Tự đánh thức niềm đam mê
Chạy về phía ồn ào sóng biển
Mong gặp giấc mơ có em hiển hiện
Cuối trời cơn mưa bóng mây…
6-2011
Những cung bậc thơ-cuộc đời trong “Sắc màu thời gian”
Những cung bậc thơ-cuộc đời trong “Sắc màu thời gian”

*Nguyễn Đình Xuân
Họa sĩ Lê Hướng Quỳ tuổi Giáp Thân, hơn tôi tới hai giáp, nhưng anh coi tôi là bạn vong niên vì tôi đã nhiều lần “ngồi chung chiếu thơ” với anh trên báo Hải Dương. Anh vốn là người xứ Thanh, tuổi thơ gửi nơi sông Mã, đền Sòng... Khi tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật, anh về công tác ở Hải Dương và gắn bó với vùng đất xứ Đông từ ấy. Nối tiếp tập thơ “Giữa không gian ba chiều” do NXB Văn học ấn hành năm 2004, sau mấy năm anh có tập thơ “Sắc màu thời gian” do NXB Hội Nhà văn xuất bản.
Tập thơ “Sắc màu thời gian” với 60 bài thơ, như là sự ghi dấu anh đi qua một chu kỳ hoa giáp, để mà ngẫm ngợi. Gần đến tuổi “nhân sinh thất thập” Lê Hướng Quỳ chẳng cần nói đến tài năng, danh vọng hay vươn tới đỉnh cao thi ca. Với anh, thơ là sự ngâm ngợi, thầm lặng chiêm nghiệm, thả hồn mình theo những cung bậc cuộc đời, có đôi khi là cảm xúc về một thời hoa niên xa xăm ký ức. Là họa sĩ làm thơ, nên trong thơ anh có tranh, có những mảng màu tối sáng và vì lẽ đó mà anh đặt tên cho tập thơ là “Sắc màu thời gian” để vẽ nên những cung bậc thơ, cung bậc đời người.
Khi đi về phía xế bóng, người ta hay nhớ về thời đã qua, về quê hương, tuổi thơ, những người bạn tri kỷ, những thăng trầm, được mất. Lê Hướng Quỳ cũng vậy. Anh từng: “Đi ngược dòng sông Mã/ “Ngựa” sải sóng xuôi dòng/Tìm người xưa tri kỷ/Trải buồn vui men sông”. Đấy là chú “ngựa” thời gian đã gùi thồ cuộc đời thi sĩ đi bên dòng đời. Anh nhớ đau đáu những cảnh vật gắn với tuổi thơ xưa, bây giờ không còn nữa: “Cây gạo đồng Cò đã mất/Vắng đàn sáo sậu trên đồng” (Cảm xúc dọc triền sông). Khi anh về quê gặp bạn sau bao tháng năm xa cách: “Nỗi nhớ trái chiều/Chợt canh gà điểm thức/Tuổi học trò/vừa đó/bóng sang ngang”. Anh viết về cô bạn gái cùng học ngày xưa, bây giờ “tóc đều vương sóng bạc”, thế mà “mắt huyền xưa... vẫn hóm”. Thơ Lê Hướng Quỳ câu chữ đơn giản, nhưng bạn đọc dễ gặp những điểm nhấn như ở câu thơ trên. Mắt huyền mà được tả là “hóm” thì thật sáng tạo, đấy là mắt biết nói, mắt của thời gian, của cõi lòng, dẫn người đọc vào miền hư ảo, quên đi thực tại đang già cỗi với con người.
“Sắc màu thời gian” là những tự sự của Lê Hướng Quỳ về con người, về nhân tình thế thái, là sự chiêm nghiệm những năm tháng đi qua. Anh viết những câu thơ như rất tự nhiên mà càng đọc càng thấm: “Rưng rưng bạc tóc/ Chuông chiều ngân lơi” (Chiều vương). Anh tâm sự với con gái bằng những lời chắt từ gan ruột: “Lời nói nhân tình bao đời trả giá/Đâu khúc nông sâu? Qua nước đầy vơi”. Ngay khi trong lễ hội ồn ào đấy mà anh thấy: “Cùng hội hè nhưng có giống nhau đâu/Cũng lẽ thường lở bồi trong đục”. Anh “tự bạch” trước toan vẽ: “Tranh hiển hiện ba chiều/Bút tìm màu sắc thật/Nhiều phen đời đối mặt/Giữa hai chiểu thương đau”. Dù viết về những đắng cay, vấp ngã, nhưng Lê Hướng Quỳ vẫn tìm những câu thơ dẫn bạn đọc đến những khát khao, để tin tưởng, không bi quan, đấy là tư tưởng nhân văn trong thơ anh: “Trái tim vẫn cảm nhận điều trung thực/Giữa bộn bề chắt lọc để yêu thương” (Vạn Kiếp yêu thương). Khi viết về những đứa trẻ mồ côi vượt khó: “Về đây nên bầy nên tổ/Chịu thương vượt khó nên người/Bây giờ em còn non nớt/ Mai ngày tung cánh cò bay” (Lang thang cánh cò). Những bài thơ viết về mùa Xuân của anh cũng phơi phới, tràn đầy lạc quan trước sự xốn xang, giao hòa trời đất.
Chiếm một số lượng không nhỏ bài thơ trong “Sắc màu thời gian” được Lê Hướng Quỳ viết để động viên, cổ vũ phong trào lao động sản xuất, xây dựng quê hương nông thôn mới. Anh ca ngợi người lao động ở nhiều ngành nghề, mọi lứa tuổi, từ người công nhân lái phà, xây dựng, đến người công nhân môi trường đô thị, cô giáo lớp học tình thương. Có những bài thơ thời sự cổ vũ phong trào trồng cây, gây rừng... Những bài thơ như thế bạn đọc dễ thấy câu chữ thô ráp, to tát, có cảm giác hô khẩu hiệu, sức sống không lâu bền. Còn những câu thơ sáo mòn, người đọc không thấy được sự lao động vất vả, sự gia công nghiêm túc của người làm công việc gọi là sáng tác văn học. Có thể nêu những câu như: “Em nâng niu những mất còn dâu bể”; “Nơi ấp ủ những sắc màu bất tử/Mảnh vườn Xuân thắp sáng cả hoàng hôn”; “Hỡi em tuổi xuân hương tỏa/Màu xanh vĩnh hằng xứ sở”; “Mộng tan... gom nhặt nghĩa tình/Một mình anh mắc nợ vành trăng suông”...
Không thể không nhắc đến hình ảnh vầng trăng trong tập thơ “Sắc màu thời gian”. 24 bài thơ trong tổng số 60 bài thơ trong tập có hình ảnh vầng trăng với đủ các cung bậc cảm xúc, trạng thái, cả không gian, thời gian, cả thực và ảo, tròn với khuyết, sáng với lu... Có bài thơ nhắc đến trăng từ ba đến bốn lần, thậm chí 6 lần. Anh viết về trăng thời sơ tán kháng chiến chống Mỹ, trăng trên biển động, những mùa trăng thời gian, trăng trong tâm tưởng, trăng sớm, trăng khuya, trăng tròn, trăng náu, trăng nơi quê mẹ, cố hương và cả trăng “ngây ngô tình”... Có những hình ảnh trăng thơ mộng: “Tuổi thơ xanh mùa cốm/Cánh diều vờn trăng treo” (Thơ ban chiều); vầng trăng kỷ niệm: “Mùa trăng/Ai gửi hương trời đất/Tặng kẻ xa nhà nhớ cố hương” (Hương cốm cố hương) và “Sông Xuân neo đậu vầng trăng nhỏ/Xuân về quê mẹ/Nhớ quê cha”. Lê Hướng Quỳ còn lấy trăng làm nhân chứng cho một mối tình dang dở “Qua bến đò xưa, em gửi anh/Thiếp hồng thảng thốt ánh trăng thanh/Anh nhặt lời thề trong đá cuội/Trả lại dòng sông xưa biếc xanh” (Bến cũ). Khi đến Côn Sơn, anh cảm nhận vầng trăng oan nghiệt: “Cổng chùa bán nguyệt trăng rơi/Khói hương nhòe cả hồn người thăng thiên” (Nợ). Lấy trăng để giãi bày sự gian nan, vất vả, phải tha hương kiếm sống: “Trăng hạ huyền tỉnh giấc đã long đong” và khi trở về quê hương thì bao người thân đã mất, trăng chỉ còn hư ảo: “Mây trời lơ lửng màu mơ/Bóng trăng hư ảo xa mờ anh em” (Vầng trăng đất mẹ).
“Sắc màu thời gian”, một tập thơ chứa nhiều cung bậc về tình thơ, ghi dấu thời gian, về cuộc đời không chỉ với riêng tác giả, mà còn gợi nhiều suy ngẫm cho bạn đọc. Khi gấp lại tập thơ, tôi còn nhớ đến hai câu của Lê Hướng Quỳ: “Tình quê nhân nghĩa dài lâu/Tôi đi không lạc sắc màu thời gian”...
Hà Nội 5-7-2011
Ước vọng không gian trong "Chuồn chuồn phố"

Trần Hồng Giang được bạn đọc biết đến không chỉ là một trong những thành viên quản trị của trang website: lucbat.com, mà còn bởi nghị lực sống và sự say mê sáng tạo của anh. Quê anh ở Nam Định, một vùng đất vốn có nhiều văn nhân, đấy là quê ngoại của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến; tài hoa thi gia Nguyễn Bính... Nhưng chàng trai người Thành Nam Trần Hồng Giang đến với thơ như một lẽ tự nhiên, đó là lẽ sống, bởi với anh viết là để níu kéo lại với cuộc đời. Một tai nạn bất ngờ ập xuống cuộc đời anh khi mới hơn năm tuổi, khiến anh bị liệt. Nhờ người bố cũng là một giáo viên đã kiên trì dạy anh học chữ và anh đã cố gắng dùng má để cầm bút, tự học và sáng tác. Anh còn tự học ngoại ngữ để dịch thơ và các các thể loại khác. Khi có chiếc máy tính, việc viết của anh được cải thiện hơn. Sau tập thơ đầu tay “Nỗi nhớ mùa hè” (Hội văn học Nghệ thuật Nam Định xuất bản năm 2003, tái bản 2005), vào quý 2-2011 anh cho ra đời tập thơ thứ hai “Chuồn chuồn phố” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.
Tập thơ của chàng trai tuổi gần tứ tuần (Trần Hồng Giang sinh năm 1974) với 42 bài thơ trải qua 70 trang sách, nhưng “Chuồn chuồn phố” đã giãi bày với người đọc những nỗi niềm, những suy tư trăn trở và truyền tới người đọc những ước vọng, khao khát về không gian. Anh đã quan sát không phải bằng hiện thực mà bằng cảm giác qua một hoàn cảnh rất đặc biệt: “Hé mắt nhìn qua kẽ tay/Ngoài kia nắng vẫn len đầy lối đi...” (Vô đề). Câu thơ là sự lắng lại những ước ao sau những nhọc nhằn, dở dang, nếm trải những đắng cay, được mất, những mưu mô xảo trá và thật thà, vô ưu... Phải lắng qua nỗi đau mới nhận thức được giá trị cuộc sống, mới đi đến tận cùng cảm giác vô định: “Đưa tay hứng một vốc đầy bụi mưa!..” Câu thơ này trong bài “Nhịp tháng Hai”, theo tôi là sự xuất thần của tác giả. Đây là sự khát vọng không gian tinh tế, như đã thấm vào tác giả để từ đó truyền lan đến người đọc.
Khát vọng không gian với Trần Hồng Giang khởi nguồn từ sự trở về ký ức. Đó là những kỷ niệm thuở ấu thơ với những ngộ nghĩnh cho chuồn chuồn cắn rốn tập bơi, những trò chơi dân gian và trò chơi con trẻ: “Thuở ấy mây trôi ngang tán lá bàng đầu ngõ/Thẹn thùng bông râm bụt đỏ/ Em vờ cài tóc cô dâu”. Và kỷ niệm thời học trò: “Mực tím nhòe lem trang vở/Anh ngây ngô bài thơ dang dở” (Mây xưa).
Anh nhớ về đêm trên đồng ải tháng Mười với những cảnh vật, nỗi niềm ký thác vào tâm thức: “Tháng Mười hanh hao le se gió bắc/Trăng đồng chiêm nhợt nhạt uốn lưỡi liềm/Sương đậu xuống trong lòng tay sóng sánh/Thấp thoáng ánh đèn nhem nhễ cùng đêm”. (Đêm trên đồng ải). Phải nói rằng, Trần Hồng Giang rất sáng tạo khi tả tiết thu “hanh hao le se gió bắc” hay tả về “ánh đèn nhem nhễ cùng đêm”. Trong “Chuồn chuồn phố” có nhiều câu thơ tả cảnh quê đồng bằng rất tinh tế và gợi: “Bù nhìn dấp dim mơ ngủ/Cánh diều bay ngang chiều thu”; “Vạt nắng vàng mơ vườn cũ/Cỏ cây ngả sắc thở dài”... (Một góc thu) . Hay : “Con mèo mướp duỗi mình trong sân nắng/Đêm lập lòe đom đóm rộn bờ ao...” (Tháng Tư). Và đây: “Chài quăng tung bọt nước/Xập xòa trắng lóa mặt sông”, “Con tôm cờ búng càng tí tách/Nhảy loi choi, loi choi...” (Gia đình thuyền chài).
Thơ vốn hay ở sự bình dị mà truyền tải đời sống hiện thực và hiện thực thổi hồn cho sự bình dị ấy. Những hình ảnh thơ Trần Hồng Giang trong “Chuồn chuồn phố” không cầu kỳ, nhưng khi đọc vẫn có thể nhớ lâu. Không nhớ sao được khi bắt gặp hình ảnh “Sẻ nâu ngơ ngác sân chùa/Khật khừ gió bấc lưa thưa mưa phùn/ Tụm vòng cay mắt khói hun/Vài con cúi cháy đượm nùn rơm khô” (Mùa Đông). Phải là người sống ở thôn quê đồng bằng Bắc Bộ mới cảm thấm đầy đủ hồn vía của những câu thơ như trên. Cả khi viết về không gian ngôi chùa quê, Trần Hồng Giang cũng có câu thơ rất gợi: “Bồ đề lặng yên ngẫm ngợi/Vườn chùa tư lự chênh chao/Lấp loáng nắng chiều loang vỡ/Ni cô nhặt lá bên rào” (Vườn chùa). Đọc bài thơ này, tôi lại nhớ đến bài thơ “Quê nội” của nhà thơ xứ Nghệ Lê Thái Sơn, có câu “Những mùa hoa đại trắng/Tiếng mõ chừng cũng thơm”, tự nhiên thấy không gian rộng ra và thanh tịnh xiết bao!
Đặt tên cho tập thơ là “Chuồn chuồn phố”, Trần Hồng Giang vừa muốn níu kéo về kỷ niệm, về không gian ký ức đồng bằng, song anh vừa muốn nói đến sự biến đổi, sự phôi pha trong tâm hồn thuần nông từ bao đời khi tiếp nhận những phương chiều văn hóa thị thành, kiểu như Nguyễn Bính: “Hôm qua em đi tỉnh về/Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Tuy nhiên, ở thơ Trần Hồng Giang là những thân phận người quê ra phố kiếm sống: “Bán lẻ những giọt mồ hôi/Sẻn so cả những nét cười héo hon...”, “Lang thang như một con diều/Tấm thân quăng quật bao chiều bão giông/Thoảng buồn rồi lại như không/Nhà quê vẫn cứ một lòng nhà quê” (Gặp người quê ở phố). Khi nói về những người quê “đong đưa mây gió thị thành”, tác giả không giấu giếm: “Quê xa giờ đã xa rồi/Chỉ thấy hời hợt mắt môi quanh mình/Díu dan một mớ tội tình/Thương thân trót dại rập rình lanh chanh”. (Chuồn chuồn phố). Những bài thơ “nhuốm sắc thị thành” của Trần Hồng Giang đều đượm buồn, như “những vòng tròn quẩn quanh”. Đó là những trăn trở của tác giả, khi làng quê bây giờ không còn là làng quê xưa.
Trong “Chuồn chuồn phố”, Trần Hồng Giang đã có những câu lục bát mà tôi thích. Tuy nhiên trong tập, Giang còn viết nhiều câu mòn sáo, chưa thật chú trọng lao động thơ. Chẳng hạn câu “Đài Nghiên mực chợt dư thừa/Vẩy lên không những vần thơ ân tình” (Ta về Hà Nội mùa Đông); “Có hay mùa xuân đã đến!/Bất chợt lòng người quên đi bão giông” (Lặng lẽ mùa Xuân). Hoặc anh lên gân: “Đắng đót lời ca nỗi đau nhân loại/Phiêu du bước nhảy thiên thần/Giai cấp trở thành huyễn hoặc/Mờ bụi hồng trần...” (Nhớ M.J). Và “Sài Gòn nắng!/Sài Gòn mưa!/Dọc đường gió bụi/Ta qua tình cờ!...” (Sài Gòn ngày trở lại) v.v..
Cảm thông với Trần Hồng Giang bởi anh chưa có nhiều điều kiện thực tế, anh viết theo tâm tưởng và nhận biết qua “thực tại ảo”, chủ yếu trên các phương tiện nghe nhìn và internet. Song quý nhất ở anh là sự đa cảm, cái nhìn tinh tế, chân thành, là những gì lắng trong trái tim, chắt lọc từ tâm khảm anh để viết nên những vần thơ gan ruột truyền gửi đến bạn đọc. Tin rằng với anh, thơ đem đến sự ấm áp, chứ không phải “Chợt nghe hồn lạnh tái tê/Chim di trú bao giờ về chốn xưa”...
Nguyễn Đình Xuân
Đốt đuốc đi tìm nhà thơ quân đội trẻ
Lời chủ bút: Ngày 13-6-2011, tại hội trường tạp chí Văn nghệ Quân đội, Chi hội Nhà văn Quân đội và tạp chí VNQĐ tổ chức Hội nghị Những người viết văn trẻ trong quân đội lần thứ nhất. Tôi là đại biểu tham gia hội nghị và được ban Tổ chức yêu cầu có tham luận. Sau đây là toàn văn tham luận của tôi (dự kiến sẽ đọc).
Đốt đuốc đi tìm nhà thơ quân đội trẻ
1- Tôi được Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Chi hội Nhà văn Quân đội mời tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ trong quân đội lần thứ nhất, tổ chức ngày 13-6-2011. Tự trong lòng rất mừng và hồi hộp, vì đây là lần đầu tiên tôi dự một hội nghị mang “tính chuyên nghiệp”. Trước đây, tôi đã được mời tham gia Trại sáng tác viết cho thiếu nhi, nhưng... bị trượt vì thất lạc giấy mời. Rồi tôi tham gia Câu lạc bộ Văn học Trẻ Hà Nội, nơi mà 20 năm sau đó đã góp phần nâng bước các cây bút trưởng thành, trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam như Phong Điệp, Đoàn Mạnh Phương và hội viên của Hội nhà văn Hà Nội. Nhiều hội viên CLB này đã được bạn đọc biết đến như Phong Điệp, Đoàn Mạnh Phương, Trang Hạ, Nguyễn Đình Xuân, Đinh Ngọc Quang, Nguyễn Vinh Huỳnh, Trương Song Hiền, Nguyễn Trung Tuyến, Đinh Song Linh, Nguyễn Bích Huyền, Hoàng Lâm, Lê Hoài Nam, Nguyễn Quảng Hà, Hoàng Lan Anh, Minh Nga, Đoàn Hồng Sơn, Lê Bảo Long, Nguyễn Quốc Thái, Chu Thu Hằng... Trong số những cây bút sinh hoạt trong CLB Văn học Trẻ Hà Nội, chỉ có Nguyễn Đình Xuân là công tác trong quân đội.
Thực ra tham dự Hội nghị Những người viết văn trẻ trong quân đội lần thứ nhất, bản thân tôi đã được Ban tổ chức “chiếu cố” vì tôi không còn trẻ theo tuổi quy định. Nhà văn Nguyễn Đình Tú, Ban công tác Nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam và là thành viên Ban Tổ chức hội nghị này từng cho biết: Được gọi là nhà văn trẻ, độ tuổi quy định không quá tuổi 35. Như thế, tôi đã vượt “ngưỡng” cả gần chục năm. Nhưng đây là hội nghị lần thứ nhất, có ý nghĩa khai phá và “điểm danh” những cây bút quân đội ít nhiều được chú ý nhưng chưa trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tôi cũng vì đó mà thử điểm lại lực lượng nhà văn trẻ trong quân đội ở chuyên ngành thơ- lĩnh vực mà thời gian gần đây quan điểm, hoạt động sáng tác, xuất bản với số lượng rất phong phú, đa dạng.
Trong những năm chống Mỹ và chiến tranh biên giới, bảo vệ Tổ quốc, đội ngũ những nhà thơ trẻ trong quân đội rất hùng hậu, có thể ví như “nấm mọc sau mưa”. Ở cuộc kháng chiến chống Mỹ có những Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hoa, Trần Đăng Khoa, Hoàng Nhuận Cầm... Sau khi đất nước thống nhất, các nhà thơ trẻ quân đội đã có “một cuộc hội quân lớn” ở Thủ đô Hà Nội. Rồi cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ Tổ quốc, là những nhà thơ trẻ quân đội Nguyễn Hồng Hà, Đỗ Trung Lai, Trần Anh Thái, Hồng Thanh Quang, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Đình Chiến, Đoàn Minh Tuấn, Mai Nam Thắng, Bùi Văn Bồng... Những nhà thơ trẻ mặc quân phục ngày ấy đã góp phần rất lớn vẽ lên gương mặt rạng ngời của văn học nước ta, nhất là đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Có nhiều nguyên nhân để quân đội có đội ngũ nhà thơ trẻ hùng hậu như thế, một trong những lý do là bởi hoàn cảnh đất nước chiến tranh, nên rất nhiều thày giáo, sinh viên, thanh niên học sinh từ các trường đại học, cao đẳng được động viên vào quân đội. Đây cũng là nguồn bổ sung rất quan trọng cho đội ngũ sáng tác văn học, nghệ thuật quân đội.
Có thể nêu lên những tác động đến việc xây dựng đội ngũ nhà thơ trẻ trong quân đội kế tiếp, đó là từ năm 1986 với công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo; năm 1989 quân đội ta hoàn thành nhiệm vụ quốc tế tại nước bạn Cam-pu-chia; rồi nước ta bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc, với Mỹ... Quân đội ta trở về hoạt động trong thời bình, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa và tham gia các nhiệm vụ khác. Quân đội tổ chức tuyển sinh đào tạo, tuyển chọn thanh niên nhập ngũ với tiêu chuẩn chặt chẽ, chính quy hơn để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong lĩnh vực văn học, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị rất coi trọng, đã tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng sáng tác, các trại viết nhằm thu được nhiều tác phẩm chất lượng về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng, phát hiện những tài năng, cây bút mới để bổ sung vào đội ngũ những nhà văn chuyên nghiệp mặc quân phục. Tuy nhiên, nhìn vào đội ngũ các nhà văn trẻ trong quân đội hiện nay, nhiều người phải trăn trở và suy nghĩ. Có thể tạm hài lòng với văn xuôi, bởi nhiều nhà văn trẻ đã khẳng định được mình, có tác phẩm được chú ý. Ở tạp chí Văn nghệ Quân đội có Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy; NXB Quân đội nhân dân có Nguyễn Xuân Thủy; ở đơn vị cơ sở có thể kể đến Quỳnh Vân, Hồ Kiên Giang; lớp sáng tác văn học Đại học Văn hóa-Nghệ thuật quân đội là Trần Đức Tĩnh với tập truyện ngắn “Mùa phù sa” mới xuất bản gần đây; rồi Nguyễn Văn Hạnh với những tác phẩm đã đăng ở một số báo, tạp chí. Về các nhà thơ trẻ trong quân đội có thể nói phải “đốt đuốc” đi tìm. Trong “ngôi đền” văn học Nhà số 4-Lý Nam Đế, các nhà thơ Nguyễn Bình Phương, Phùng Văn Khai được bạn đọc nhớ hơn bởi văn xuôi và tiểu thuyết, tuy nhiên cũng “hết tuổi” theo tiêu chuẩn “trẻ”. Đoàn Văn Mật mới chân ướt, chân ráo làm quen làng văn. Đang công tác tại các cơ quan báo chí, văn học, nghệ thuật quân đội có Phạm Vân Anh (Điện ảnh Biên phòng), sinh năm 1980 đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; Nguyễn Đình Xuân, Hoàng Gia Minh, Phan Tùng Sơn (Báo Quân đội nhân dân); Phùng Hải Yến (Trường Đại học Văn hóa-Nghệ thuật Quân đội)... Với một đội ngũ nhà thơ trẻ mặc quân phục khiêm tốn như vậy khiến những người có trách nhiệm với văn học về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng không khỏi trăn trở.
2. Đội ngũ những nhà thơ trẻ trong quân đội đã khiêm tốn, nhưng các tác phẩm thơ của họ viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng còn khiêm tốn hơn. Cũng thật dễ hiểu, phần lớn các nhà thơ trẻ đều sinh ra, lớn lên trong điều kiện đất nước đã thống nhất, sống trong hòa bình và đổi mới, nên những cảm nhận, hiểu biết về chiến tranh chưa có sự sâu sắc. Mà đã không được sâu sắc thì viết khó hay, nên ngại viết. Hơn nữa, trong sự đổi mới của đất nước và nền kinh tế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa đang được xây dựng, văn học nước ta cũng có sự biến động mạnh mẽ, nhất là sự phong phú về đề tài và đa dạng phong cách thể hiện. Văn học về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng không được xem như vai trò độc tôn mà chỉ còn được xem như là một thành phần “ký ức” của hiện thực. Mà hiện thực thì còn nhiều vấn đề để quan tâm hơn, để đầu tư công sức cho sáng tác hơn, đó là chưa kể đến việc sáng tác theo phong trào, khuynh hướng thời thượng đổi mới hình thức, phá vỡ cấu trúc thơ hiện nay.
Tôi còn nhớ trong một bài viết của nhà văn Sương Nguyệt Minh trên báo Biên phòng, anh có nhận xét: “Văn học viết về người lính hôm nay chưa rõ hình thù, nếu không nói rằng quá yếu. Tạp chí Văn nghệ quân đội là diễn đàn văn nghệ của lực lượng vũ trang nhân dân, đối tượng phục vụ trước hết phải là người lính, họ đọc tác phẩm phải thấy bóng dáng mình trong đó. Nhưng cứ vài tháng không có tác phẩm nào viết về người lính hôm nay gửi về tòa soạn là lại lo, vì thế có được truyện ngắn nào viết về người lính hôm nay là mắt sáng lên. Truyện viết trung bình là đã đưa vào in, nhưng thường là hiếm, thiếu triền miên. Những tác phẩm đã in cũng không có tác phẩm hay, đáng để nhớ”. Văn xuôi là vậy, thơ cũng không khá hơn và thơ của các tác giả trẻ thì càng như “lá mùa thu”. Thỉnh thoảng trên tạp chí Văn nghệ quân đội, báo Quân đội nhân dân và một số báo, tạp chí của quân khu, quân chủng, tổng cục đăng một số bài thơ của các cây bút trẻ quân đội, nhưng thực sự chưa được chú ý lắm. Tại một số trại viết do Tạp chí Văn nghệ quân đội hay quân khu, quân chủng tổ chức, cũng có số lượng rất ít các cây bút thơ trẻ tuổi tham gia. Gần đây, có nhiều cây bút trẻ tuổi trong quân đội xuất bản những tập thơ riêng, như: Phạn Vân Anh với “ Tôi chào tôi”, “Mùa tình”, “Góc”; Đoàn văn Mật với “Giữa hai chiều thời gian”; Nguyễn Đình Xuân với “Tiếng sóng sông quê”, “Bóng nắng”; Nguyễn Cảnh Bình (Quân đoàn 4) với “Theo anh về xứ Nghệ”, “Chút phận làm con”, Vũ Tuấn Anh (Tổng cục Hậu cần) với “Thì thầm đường quê”... Trong số này, “Tiếng sóng sông quê” có thể được xem là tập thơ viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Một số tác giả trẻ khác từ Khoa Sáng tác-Lý luận-Phê bình văn học (Trường Đại học viết văn Nguyễn Du) và ở các ngành, địa phương đã xuất bản những tập thơ riêng, ít nhiều đã có một số bài thơ viết về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng, nhưng chúng chưa thực sự ấn tượng. Chất lượng sáng tác của các nhà thơ trẻ trong quân đội khiêm tốn như vậy nên trong các cuộc thi thơ của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội và giải thưởng văn học-nghệ thuật 5 năm của Bộ Quốc phòng hầu như vắng bóng họ không có gì là lạ.
3- Chất lượng khiêm tốn của các cây bút trẻ mặc quân phục hôm nay là dễ hiểu. Trước hết không như thời chiến tranh, Quân đội ngày nay không thể “phát lệnh” gọi nhập ngũ với những cây bút tài năng được, giống như phát lệnh “gọi nhập ngũ” với những tài năng bóng đá. Vậy nên cần phải quy hoạch và có kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, chiến sĩ có năng khiếu văn chương. Những năm gần đây, Tổng cục Chính trị mở lớp đào tạo sáng tác ở Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội. Quân đội cũng lựa chọn một số cây bút trẻ gửi đào tạo Trường Đại học viết văn Nguyễn Du, Khoa Sáng tác-Lý luận-Phê bình văn học Trường Đại học Văn hóa... Đây là sự cố gắng, một trong những giải pháp thiết thực, tích cực, song hy vọng thì nhiều, nhưng văn chương không phải đào tạo là ra được. Vậy thì cần phải tìm nguồn trong cán bộ, chiến sĩ toàn quân, ở đơn vị cơ sở. Vì chỉ có rèn luyện ở cơ sở, trưởng thành từ cơ sở, nhà thơ mới có nhiều đóng góp cho nền văn học về đề tài người lính và chiến tranh cách mạng. Sáng tác của họ mới mang chất lính, thực sự hồn lính bởi họ hiểu rõ và sâu sắc hơn về truyền thống Quân đội, về cuộc sống, nhu cầu của người lính hôm nay. Muốn thế, trong tuyển quân, tuyển sinh nhất là tuyển vào đào tạo tại Trường Đại học Chính trị, Đại học Văn hóa Nghệ thuật quân đội và các học viện, nhà trường quân đội phải được chú trọng hơn; đồng thời thông qua các hoạt động văn hóa ở cơ sở để phát hiện, bồi dưỡng tài năng, những hạt nhân văn hóa, văn nghệ. Lựa chọn, tuyển dụng các tài năng đã định hình vào phục vụ quân đội là cần thiết, song chỉ là giải pháp tình thế, vì tính hiệu quả vững bền của việc đào tạo con người có tình thần trách nhiệm, gắn bó với quân đội.
Những năm qua, Tổng cục Chính trị, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, NXB Quân đội nhân dân... mở nhiều trại viết, song với mục đích trước hết là phục vụ cho các cuộc vận động sáng tác, các cuộc thi sáng tác văn học. Để nâng cao chất lượng cuộc vận động, cuộc thi thông qua tác phẩm, trại viên được mời thường là những nhà văn, nhà thơ đã được khẳng định, đã có thành tích “đáng nể” trên văn đàn, hoặc do các địa phương lựa chọn, nên các cây bút trẻ “khó lọt” được vào các trại này. Một số trại viết, khóa sáng tác do quân khu, quân chủng mở hoặc phối hợp với Tạp chí Văn nghệ quân đội, cơ quan văn hóa-văn nghệ Tổng cục Chính trị mở, các cây bút trẻ, không chuyên được tham dự nhiều hơn. Điển hình như các trại sáng tác của Quân chủng Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Quân khu 5... đã phát hiện, bồi dưỡng được nhiều cây bút trẻ triển vọng. Các tác phẩm của các cây bút trẻ từ đó cũng được giới thiệu trân trọng hơn, được chú ý hơn. Để phát hiện, bồi dưỡng các tài năng, năng khiếu văn học, nhất là các cây bút làm thơ trẻ, ngoài việc phát động của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tổng cục Chính trị nên thường xuyên chỉ đạo các đơn vị cơ sở quan tâm, phát động các cuộc vận động, thi sáng tác ở cấp mình, ngành mình. Đề tài về người lính và chiến tranh cách mạng rất rộng và khó sáng tác hiện nay, vì vậy cần có sự định hướng của cơ quan chức năng và những chính sách, chế độ hỗ trợ phù hợp của Nhà nước, Quân đội để những giá trị truyền thống đấu tranh cách mạng được lan tỏa, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của lớp trẻ hôm nay./.
Hà Nội 6-2011
Mùa hạ về
Bắt gặp mùa hạ khi xem ảnh của con
Cả lớp bâng khuâng dưới trời phượng đỏ
Những năm học trò đi vào nỗi nhớ
Mà sao mình chợt một mùa quên?
Như lớp phù sa phủ ký ức vẹn nguyên
Đôi mắt ai nhìn xa xôi buồn lắm
Ô cửa sổ rập rờn những nắng
Hàng cây thưa mưa ướt bóng mây...
Dường như tiếng cười vô tư thảng qua đây
Những cuộc chiến gầm bàn ai vênh mặt
Thế mà trang sổ hồng vương nước mắt
Trách đàn ve réo rắt tán xà cừ.
Tìm lại thấy mình trong con bây giờ
Sao trong lòng như trôi về xa vắng
Em còn trầm tư nhìn vòm hoa nắng
Sân trường chìm trong giấc ngủ trưa...
20-5-2011
Xem Nguyễn Chu Nhạc "... thắp lửa"

Nhà thơ Trần Đăng Khoa giới thiệu với tôi: “Chú nên tìm đọc Nguyễn Chu Nhạc, hắn viết đa dạng, đọc sẽ thấy nhiều cái thú vị”. Ấy là trong bữa cơm bụi trên phố Lý Nam Đế, khi ấy Trần Đăng Khoa còn công tác ỏ tạp chí Văn nghệ quân đội. Buổi ấy, tôi còn được gặp thêm Nguyễn Chu Nhạc, Trịnh Bá Ninh… Rồi từ ấy, tôi chưa gặp lại Nguyễn Chu Nhạc. Anh cũng chẳng nhớ việc bảo tặng sách cho tôi. Gần đây nhất, nhân buổi đưa con đi chơi Nhà sách Tràng Tiền ở Hà Nội, nhìn trên giá sách có cuốn “Những người thắp lửa”, tập phê bình, tiểu luận và chân dung văn học của Nguyễn Chu Nhạc do NXB Văn học ấn hành năm 2009, tôi chọn mua xem anh “thắp lửa” thế nào.
Cuốn sách của anh do nhà thơ Trần Đăng Khoa viết giới thiệu. Từng là bạn học thời đèn sách đi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc đầu những năm 1970 và là đồng nghiệp ở Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay, thần thái của Nguyễn Chu Nhạc được nhà thơ “thần đồng” bóc gỡ phơi ra cả. Thế thì đọc xong, tôi còn viết gì? Nhưng đọc kỹ, thấy có thêm những điều muốn nói, thế là tôi tìm đến bàn phím.
Nguyễn Chu Nhạc quả là con “ma xó”, đông tây kim cổ rành rọt cả. Theo những gì anh viết, tôi biết anh vốn là “con mọt sách”, thừa hưởng sự dạy dỗ của người bố am hiểu chữ Hán. Rồi anh tự học, tìm hiểu Hán ngữ, nên những bài viết của anh về khảo cứu, đàm đạo về thơ chữ Hán, thơ Đường, văn học Trung Quốc rất thú vị và sâu sắc. Bạn đọc cuốn hút với câu chuyện “Mưa Xuân cỏ mọc” bởi anh không chỉ đưa bạn đọc hiểu tường tận về danh nhân “lưỡng quốc trạng nguyên” Nguyễn Trực, mà còn tạo nên cảm giác êm ái, ấm áp mùa Xuân, về ý nghĩa cuộc sống. Nhờ đó đọc sách người ta không cảm thấy nặng nề. Cũng với cách viết dung dị nhưng thấm như mưa Xuân, anh dựng nên chân dung nhà thơ Trần Ngọc Thụ, mà theo tôi anh đã thành công trong phần viết về thơ chữ Hán của Trần Ngọc Thụ. Thơ chữ Hán vốn được ký thác nhiều triết lý, suy ngẫm, trải nghiệm, nhiều điển tích, song qua ngòi bút của Nguyễn Chu Nhạc vẫn rất nhẹ nhàng, dễ thấm mà thẫm đẫm tình người.
Có nhiều thời gian sống ở nông thôn, vùng đồng bằng Bắc Bộ nên Nguyễn Chu Nhạc dễ đồng cảm với các tác phẩm văn học, thơ ca viết về mảng đề tài này. Vì thế, anh dựng nên khá thành công các chân dung nhà thơ Phạm Công Trứ, Trần Ngọc Thụ, Phùng Cung và những bài tản văn đầy chất thơ như “Lối đi đầy mùi khói cuối năm”, “Oi nước lên”, “Vị minh mạc thác hoa”, “Một năm có hăm bốn tiểu tiết”, “Tết vui là nhờ có không khí”… Riêng bài “Vị minh mạc thác hoa”, anh viết về thú ẩm trà tao nhã từ việc dẫn thơ Chu Thần Cao Bá Quát, cách thưởng trà người xưa, về ý nghĩa của chúng mà anh cảm được, thành gia phong. Theo tôi, bài viết giống như một trường ca đầy thi vị. Anh viết về những tác giả-“những người bình thường” trong văn chương, nhưng qua đó anh đã khéo léo giới thiệu về truyền thống, lịch sử, văn hóa, con người, phong tục ở những làng, các vùng miền, qua đó thắp lửa trong lòng người đọc, nhen lên những tình cảm cao đẹp, thêm yêu quê hương, con người, gìn giữ và vun đắp những giá trị nhân văn con người. Điều đó thể hiện trong các bài viết “Người tìm giữ hồn làng”, “Khát vọng văn chương”, “Chân dung cuộc sống”. Khi anh viết về các nhà văn, nhà thơ: Nữ sĩ Anh Thơ, Phùng Quán, Phùng Cung, Phạm Hổ, Trần Đăng Khoa, Lâm Huy Nhuận, Nguyễn Huy Thiệp… tuy chỉ là những chấm phá, phác họa chân dung, song đã có những điểm nhấn gây chú ý. Chẳng hạn, nữ sĩ Anh Thơ có tiểu thuyết “Răng đen” mà chưa nhiều người biết; nhà thơ Phùng Quán nghẹn lời khi bị ai đó chặn lời; Phạm Hổ chăm chút các cây bút trẻ; Nguyễn Huy Thiệp lặng lẽ, Lâm Huy Nhuận có tài bốc thuốc v.v..
Ở mảng văn học nước ngoài, Nguyễn Chu Nhạc đề cập đến văn học Nga; văn học Trung Quốc cổ thì có “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần, hiện đại có Mạc Ngôn, Kim Dung; anh đề cập đến văn học, văn hóa Nhật Bản thông qua nhà văn Yasunari Kawabata. Qua những bài viết, bạn đọc ghi nhận sự cố gắng của anh, chia sẻ với anh về cảm xúc, nhưng chưa thỏa mãn về sự nhận diện văn học. Là nhà báo nên Nguyễn Chu Nhạc có điều kiện đi đến nhiều vùng đất, địa danh trong nước và quốc tế, đến đâu anh cũng chịu khó quan sát, ghi chép, nhờ đó mà mang đến cho bạn đọc những thông tin bổ ích và suy ngẫm thú vị.
28 bài viết in trong tập “Những người thắp lửa” đã cho anh số lượng tác phẩm riêng xuất bản lên tới con số 7. Tuy nhiên ở tập sách này anh hơi ôm đồm, dẫn đến cảm rác rời rạc, phân tán sự tập trung của người đọc. Có câu “quý hồ tinh…” nên một số bài viết anh cần phải gia công nhiều hơn để trở thành tác phẩm văn học. Đọc tập sách thấy anh còn để lộ mình nhiều, khi cái tôi có hàm lượng nhiều lên thì sẽ gây nên hiệu ứng cản trở cho sự tiếp nhận của người đọc. Đấy là suy nghĩ của riêng tôi và tôi sẽ còn trở lại với những tác phẩm của anh trong các bài viết sau./.
Hải Dương 30-4-2011
Chuyện ở bàn bia
Trưa nay, ở CLB Điện ảnh quân đội, ngồi uống bia với các nhà thơ, nhà văn: Nguyễn Việt Chiến, Phong Điệp, Đinh NGọc Quang, NGuyễn Vinh Huỳnh, Vân Anh (Khoa sáng tác ĐH Văn hóa HN đi cùng nhà PBLLVH Văn Giá). Văn Giá sang dự sinh nhật vợ nhà thơ Đàm Khánh Phương. Lát sau Thanh Tùng đến. Với tôi, Phong Điệp, Đinh Ngọc Quang, Nguyễn Vinh Huỳnh, Thanh Tùng vốn biết nhau từ thời trong "Câu lạc bộ Văn học trẻ Hà Hội) cách nay gần 20 năm. Cuộc gặp gỡ rất thú vị và có bàn một số chuyện, tôi sẽ nói trong những dịp sau.
Nhân Văn Giá có nói với Phong Điệp vào chủ nhật (15-5) tới có hội thảo tại Hải Phòng về hai nhà thơ Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn. Tôi hơi ngạc nhiên vì HNV Hải Phòng lại có thể ghép hai nhà thơ vào chung một cuộc hội thảo nhỉ? Về cơ quan, vào xem blog Hoài Khánh thấy có giới thiệu bài viết của Văn Giá về thơ Mai Văn Phấn, nhưng tuyệt nhiên không thấy có bài viết về thơ Đồng Đức Bốn. Thấy cũng hơi hụt hẫng, đành comment vào blog anh Hoài Khánh những câu thế này:
Một người thì đã ra đi
Một người ở lại ờ thì rằng hai
Một người lục bát đa tài
Một người phá cách biết mai là gì
Thôi thì vai sánh bước đi
Mai sau biết có là gì... một thôi!
Được câu thơ in trên lịch block đại năm 2011

Hôm nay từ Bệnh viện 7 ở Hải Dương về Hà Nội, phấn khởi vì sức khỏe của ba tiến triển tốt, lại nhận được thư của bác Nguyễn Hữu Phách báo tin vui. Bác Phách còn gửi kèm cả tờ lịch ngày 11-7-2011 đăng 4 câu thơ của mình. Không biết lịch của NXB nào, nhưng như thế là rất quý rồi, có được câu thơ in trên lịch, dù trên một tờ giấy mỏng manh, qua ngày rồi người ta lại bóc đi. Nhưng trong lòng vẫn thấy vui vui...
Đó là một khổ thơ trong bài "Chiều Tây Bắc" của Nguyễn Đình Xuân:
Lưng đồi rừng cây rụng lá
Nghiêng bậc thang nhớ ruộng xanh
Sau mùa chim tìm gốc rạ
Đàn trâu nằm nhai nắng hanh.
(Bài thơ đã được post trong blog này)
ba tôi
Ba tôi
*Nguyễn Đình Xuân
Thế là lại đến ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5). Ngày trước khi tôi ra đời tới hơn mười bốn năm, nhưng với tôi không bao giờ quên được. Đấy là bởi hơn mười bảy giờ hôm ấy, ba tôi là một trong những chiến sĩ có mặt trên đồi Mâm Xôi trong khu vực cánh đồng Mường Thanh, chứng kiến sự đầu hàng của Tướng Đờ-cát. Trên người còn mang thương tích chiến tranh do sức ép của bom đạn sập hầm hào, nhưng cứ mỗi mùa hè về, mắt ba tôi lại như rực sáng, nhớ xa xăm về một thời “chân đất, súng trường”...
Ra đi khi tuổi còn rất trẻ với vóc người mảnh mai, nhưng ba tôi mang theo cả khối hơn căm giặc Pháp. Ấy là năm 1947, khi ông nội tôi bị đạn moóc-chi-ê của quân Pháp bắn chết trong khi đang cày ruộng. Ông từng đi lính cho quân đội Pháp, chiến đấu trên chiến trường châu Âu chống phát xít Đức để bảo vệ nước Pháp. Người làng quê tôi gọi ông là “lính khố đỏ”. Đến năm 1941, ông tôi giải ngũ trở về quê, lại gắn bó với đồng ruộng, cày cuốc làm ăn. Thế mà trong một cuộc càn quét, quân Pháp đồn trú ở khu vực cầu Lai Vu nã moóc-chi-ê vào làng. Đạn nổ dữ dội. Ông tôi đã chạy và ẩn nấp sau đống đất cao giữa đồng, nhưng lại thương con trâu đang mắc gông trên ruộng. Ông chạy lại gỡ cho chúng thì trúng đạn.
Đó là chuyện ba tôi kể lại. Ngày ba ra đi là một đêm tối trời. Đi bí mật, ba không cho bà nội và mẹ tôi biết. (Ba tôi được ông bà nội lấy vợ cho khi mới chín tuổi). Vượt qua dòng sông Kinh Thày, sang đất Chí Linh cùng với một số thanh niên của làng, ba tôi được sung vào bộ đội chủ lực thuộc Trung đoàn 98, Đại đoàn 316. Rồi từ ấy, theo đường hành quân và chiến đấu của đơn vị, ba tôi lần lượt tham gia các chiến dịch Thượng Lào, Tây Bắc, rồi Điện Biên Phủ... Ngay trên chiến trường Điện Biên Phủ lửa đạn ác liệt, ba tôi đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trước ngày kết thúc chiến dịch 5 ngày. Từ đó đến nay, ba tôi vẫn giữ nguyên một lý tưởng của Đảng. Tấm bằng và huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, ba tôi treo trang trọng trong ngôi nhà của mình.
Đi qua cuộc kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, đến cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, năm 1983, sau gần 32 năm phục vụ quân ngũ, mắt mờ, chân chân đã chậm, ba tôi được nghỉ hưu. Nhưng đầu những năm 80 ấy, như Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nói “Đất nước đang trong cơn đau đẻ”. Khi ấy đời sống người dân vô cùng khó khăn, thiếu thốn, kinh tế kiệt quệ bởi sự duy trì cơ chế quản lý tập trung, hành chính quan liêu, bao cấp kéo dài. Rời chiến trường, ba tôi lại xắn quần lội ruộng, cuốc đất trồng lúa, trồng màu. Đấy cũng là thời kỳ đặc trưng của nông nghiệp nước nhà “cơ khí hóa toàn cuốc”. Vất vả thế nhưng ba tôi vẫn tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng. Và đó là niềm tin có cơ sở vì năm 1986, bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, như là một sự sống còn nếu tổ chức Đảng thực sự là hạt nhân cầm quyền...
Cuộc đời ba tôi là một hành trình vất vả và không thật may mắn, dù ba là người có tài. Đi bộ đội khi đã học hết tiểu học và với kiến thức có được cùng với sự may mắn đã cứu ba tôi nhiều lần thoát chết. Đấy là khi chiến đấu ở đồi D1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ba tôi chỉ huy một tiểu đội bảy người. Đại liên của địch bắn rát trước mặt mà nhiệm vụ của tiểu đội phải vượt qua làn đạn để bảo đảm thông tin liên lạc. Ba đã tính toán khi địch ngừng bắn, ấy là lúc địch thay băng đạn mới, lợi dụng lúc đó là tiểu đội vượt qua bãi đất trống với đoạn đường ngắn nhất là chạy tắt theo cạnh huyền tam giác vuông. Cả tiểu đội sống sót sau những trận chiến đấu ác liệt. Tính ba thẳng thắn, làm việc trách nhiệm, làm hết sức mình, nhưng không hề cầu cạnh, bợ đỡ. Đã nhiều lần lãnh đạo cấp trên cất nhắc để ba tôi đi học hoặc bổ nhiệm vị trí cao hơn ở đơn vị mới, nhưng ba tôi luôn được lãnh đạo, chỉ huy đơn vị giữ lại vì “phẩm chất đạo đức tốt, làm được việc trách nhiệm và kết qảu cao, nếu cho đi học để phát triển thì đơn vị chưa tìm được người để thay thế”! Nếu là người thức thời, ba có thể đi “gõ cửa sau” hoặc tìm người giúp. Nhưng ba đã không làm thế. Những đứa con chúng tôi vì vậy cũng phải chịu đựng sự khó khăn, vất vả và thiếu thốn, nhưng luôn tự hào về ba tôi, về tấm lòng trong sáng. Có lẽ đấy là tài sản quý nhất!
Tháng Năm năm nay, trước ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ thì có đợt gió mùa đông bắc tràn về, mang theo những cơn mưa nặng hạt. Ba tôi cảm nhận rõ ràng sự bất thường của thời tiết khắc nghiệt bằng những cơn đau. Ba phải ở bệnh viện đón ngày chiến thắng vì phải trải qua hai cuộc phẫu thuật. Hôm chuẩn bị đi vào phòng phẫu thuật, tôi nắm chặt tay ba và động viên: “Chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa có sá chi bom đạn, vậy thì có gì phải lo lắng khi vào trận chiến đấu, giành giật lấy sức khỏe và sự sống này”. Ba nhìn tôi như muốn nói con hãy yên tâm, điều quan trọng nhất để vượt qua là niềm tin. Ba có Thẻ Bảo hiểm y tế dành cho người có công với cách amngj, có huân chương, huy chương, được miễn 100% tiền viện phí, tiền thuốc. Nhưng ba tin tưởng ở các thày thuốc quân đội, nên ba đồng ý vào điều trị ở Bệnh viện 7, Quân khu 3. Tôi cũng muốn để ba tin vào những người lính, những đồng đội của ba, của tôi.
Khi nhìn thấy ba trở về, nằm điều trị trong phòng hậu phẫu. Giường bệnh ga trải trắng toát, ba nằm thiêm thiếp ngủ. Người lính trận trải qua ba cuộc kháng chiến và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đang đấu tranh để giành sự sống. Rồi khi tỉnh lại, ba cố chịu những cơn đau do vết mổ. ba vẫn thế, không kêu ca, không đòi hỏi gì riêng cho mình. Ngay trong cuộc chiến chống bệnh tật này, ba tôi vẫn như người lính, luôn tin tưởng ở ngày mai. Có lẽ đấy là sự truyền lửa mạnh mẽ từ ba sang chúng tôi, những đứa con còn trẻ...